Thứ Ba, 7 tháng 12, 2021

NTV - CHUYỆN TÌNH ÔNG VƯƠNG HỒNG SỂN & BÀ NĂM SADEC cùng các món ăn nổi tiếng của SĐ ( P3 )


CHUYỆN TÌNH ÔNG VƯƠNG HỒNG SỂN & BÀ NĂM SADEC
Soạn giả NGUYỄN PHƯƠNG

Nhân đọc hai câu thơ của ông Vương Hồng Sển “Khóc em Năm Sadec” làm năm 1988 :

Trăm năm dầu lỗi hẹn hò,
Chén cơm Bà Chiểu, con đò Sóc Sa.
(Sóc là Sóc Trăng; Sa là Sadec)
*******
Tôi bồi hồi nhớ đến mối tình già của ông Vương Hồng Sển, ông già năm mươi năm mê cải lương và mê cô đào Năm Sadec, người chuyên đóng vai Mạnh Phu Nhơn, Tô Ánh Tuyết, Đổng Trác, Lữ Phụng Thiên… trên sân khấu hát bội và sân khấu Phụng Hảo.
Ông Vương Hồng Sển trong những dịp trà dư tửu hậu, kể những kỷ niệm ngày đầu gặp gỡ, những khó khăn trở ngại và những lúc hạnh phúc nhất trong cuộc đời chồng vợ của ông và bà Năm cho tôi và một số ít nghệ sĩ thân thiết trong Ban kịch Phương Nam nghe khi chúng tôi đến nhà ông ở số 9 đường Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bà Chiểu, Gia Định, để tập kịch thu truyền hình (năm 1967).
Ông Sển cho biết sau khi người vợ thứ hai của ông là bà Dương Thị Tuyết bỏ ông, rồi lấy cái hộp sắt đựng 360 viên hột xoàn từ 3 đến 4 ly của bà Phủ An cho hai vợ chồng ông hưởng gia tài để sang thuyền khác (lấy ông bạn Hà Văn Thân), ông Sển ra tòa ly dị với bà Tuyết xong nên về Saigon ở để kiếm việc làm. Ông ở nhờ nhà của bà Hai Hẩu ở đường Aviateur Garros tức đường Thủ Khoa Huân và ông được nhận cho làm việc ở Viện Bảo Tàng trong Thảo Cầm Viên năm 1948, ăn lương công nhựt, mỗi tháng $1,173.
Ông Sển nhắc lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy…”: Tôi quen biết Năm (khi nói đến vợ ông, ông thường gọi là Năm, tức là cái thứ Năm của bà Năm Sadec) lúc năm 1943, khi đoàn hát Phụng Hảo hát Sóc Trăng. Nhà tôi rộng rãi nên tôi rước anh chị em đào kép về nhà tôi ở. Lúc đó có chị Bảy Phùng Há, vợ chồng anh Tư Út (Phạm Văn Đẩu và vợ là Sáu Ngỗng), cô Kim Thoa, cô Thanh Tùng, cô Sáu Ngọc Sương, cô Tường Vi, anh Hai Tiền và Năm đây… Tôi làm công chức, đứng bàn ông chánh tỉnh trưởng Tây nên ở Sadec, tôi cũng thuộc về hạng có máu mặt. Tôi mê coi hát bội, hát cải lương hồi còn đi học trường Tây, giờ đây được dịp gần gũi chuyện trò với những anh chị đào kép hát mà tôi qúy mến thì còn gì thích cho bằng? Bởi vậy trong nhà tôi cứ ba ngày có một tiệc lớn, bảy ngày có tiệc nhỏ theo kiểu Tào Tháo chiêu đãi Quan Vân Trường, Tam nhật đại yến, thất nhật tiểu yến… tôi thật sự mến mộ đặc biệt với Năm đây…
Lúc Năm hát bội thì được giới hát bội nhà nghề đánh giá là thuộc về nhóm Ngũ Châu tức là năm viên ngọc quý: đó là các cô Năm Đồ, cô Cao Long Ngà, cô Ba Út, cô Hai Nhỏ và cô Năm Sadec đây (hồi hát bội có nghệ danh là Năm Nhỏ). Khi qua lãnh vực hát cải lương thì Năm đây đổi nghệ danh là Năm Sadec, Năm cũng được báo chí và khán giả khen tặng là tài danh thinh sắc lưỡng toàn. Tôi chú ý tới Năm là vì lúc đó Năm vừa đẹp, vừa hát hay mà lại là con người chịu khó làm lụng chuyên cần. Mỗi khi tôi bày cuộc tiệc ăn nhậu cho các bạn đào kép thì Năm là người đầu tiên xăn tay áo nhào vô lo việc bếp núc. Khi cuộc tiệc tàn thì Năm xăn tay áo lo thu dọn, rửa chén bát, quét nhà, dọn dẹp như chính là cái nhà của Năm. Lúc đó thì con vợ của tôi, bà Tuyết đó, bả lo đi đậu chến, đi từ sáng tới tối mịt, đứt chến mới mò về, nhà cửa bất biết, thằng chồng no hay đói cũng không hỏi han tới… tôi thương vợ tôi thiệt nhưng mà sao trong lòng hỏng thấy quý bà ta như quý em Năm…
Bà Năm cằn nhằn: “Thôi mà! Chuyện đã mấy chục năm rồi, tuồng cũ rồi mà ông hát hoài sao ông?
- Tuồng cũ nhưng mà tuồng hay, hát hoài coi càng hấp dẫn, đâu có ngán…
- Hồi đó anh chị đều có gia thất riêng (1943), bốn năm sau, ông Tơ bà Nguyệt làm sao mà lấy dây tơ hồng cột gút hai anh chị vậy?– tôi tò mò hỏi vậy!
- Tui nói là số trời, duyên thiên định. Bả hỏng chịu. Bả nói là tại bả ưng tui… Lúc đó, cái năm 1947, tui buồn cho cái thân tui bị vợ cặm sừng, nó bỏ tui… Cái tự ái của thằng đàn ông, tính hỏng thèm lấy vợ nữa… Còn bả thì bả bị thằng chồng nó theo con vợ bé, nó cũng bỏ bả… Tui thì ra tòa chờ tòa tuyên bố cho ly dị, còn bả khi có chồng thì hồi đó nghệ sĩ đâu có làm hôn thơ giá thú chi cho nó tốn tiền mà lại giấy tờ rắc rối. Bởi vậy khi thằng chồng nó quất ngựa chuối truy phong thì cô vợ xách rương ôm trấp kiếm chỗ khác mà sống. Bởi vậy bả hận đàn ông, còn tui hận đàn bà…
- Thôi mà ông! Chuyện cũ nhắc hoài… tui đi lo nấu cơm đây. Nguyễn Phương ở lại ăn cơm canh chua cá kho tộ nghe!
- Tôi: Dạ, cám ơn chị Năm…
- Rồi thì trời xui đất khiến, cái đêm tôi đi coi hát bội gánh Tấn Thành Ban hát ở chùa Dọn Bàn, Dakao, bỗng nhiên tôi gặp lại em Năm trong vai Lữ Phụng Tiên… Khi nghe em hát… Giỏ lá vai mang nhè nhẹ, em xuống giọng “thoàng”… tôi nghe thiệt là mê man trong dạ. Vãn hát rồi tôi chưa chịu về, còn nấn ná ở cửa hậu trường để gặp Năm khen mấy tiếng thì mới đành bụng. Ai ngờ gặp nhau, nói đủ thứ chuyện, tôi dắt chiếc xe đạp, dẫn bộ theo em lại cầu Mac Mahon, em nói em ở xóm Cù Lao nằm bên nầy đường Võ Di Nguy. Đêm đó tôi nhất quyết đi theo cho biết nhà em ở đâu và trong bụng cũng tính khi có dịp thuận tiện thì sẽ lại mời em xuống Chợ Cũ lại tiệm Cao Lâu ăn một bữa cơm Tàu.
- Tới xóm cù lao, muốn vô trong xóm phải đi qua một cái cầu làm bằng các miếng ván như đòn dài bắc cho người ta đi lên đi xuống ghe chài, có chổ kê bằng mấy tấm dalle sắt, cầu bắc đi xiên qua xẹo lại chớ không có thẳng băng một đường từ lộ vô xóm.
Tới đây thì Năm không cho tôi theo qua bên kia cù lao để vô xóm, vô nhà. Tôi tới đây rồi đâu có lẽ chịu về không. Nhứt là thời buổi chiến tranh, lính Pháp đi tuần, gặp chúng nó mà biết tiếng Tây tiếng u cũng dễ… rồi còn một nỗi lo khác nữa, bọn cướp trộm cũng lộng hành và cũng còn phải sợ một nỗi khác nữa là các ông công tác thành về ám sát hay liệng lựu đạn, bởi vậy tôi kèo nài để tôi đưa Năm về tới trước cửa, Năm vô nhà đóng cửa khóa chốt cho an toàn rồi tôi sẽ đạp xe máy về nhà của tôi.
- Năm thấy tôi lo cho Năm chí tình chí cốt vậy, Năm cũng xiêu lòng, nói: “Ừ! Muốn tới cho biết nhà thì tui cho đi theo. Mà điều giao trước, tui ở nhà lá, nghèo lắm, thấy cái nhà dột cột xiêu, trống trước hở sau không được chê à nghen. Nhìn thấy cái nhà rồi là anh trở ra lộ về liền à nghen…
Muốn gặp tui thì tới rạp hát, mua giấy coi hát thì gặp, đừng có tới nhà, kỳ lắm à nghen…”
- Được rồi…được rồi… tôi y hẹn mà…
- Ai mà dè, ông trời đã định trước hết mọi sự rồi. Tôi theo Năm vô tới trong xóm, mới nhìn thấy cái nhà, còn đứng dang ca nhìn trước nhìn sau để ghi nhớ hình dáng cái nhà của Năm và những căn nhà lá kế bên ra sao để ban ngày có tới đây thì tôi kiếm được nhà của Năm liền, khỏi phải hỏi bà con lối xóm, mất công họ dị nghị, lời ra tiếng vào. Bỗng đâu tiếng tu huýt thổi rét rét rân trời, bốn phương tám hướng…
Lính partisan bao vây cả xóm, bắt ra ngồi trước hiên nhà, hai tay để lên đầu, trình giấy laisser – passer cho nó xét. Chỉ huy nhóm lính nầy là một thằng thiếu úy Pháp và hai thằng xét dăng (sergent) người Pháp. Nhờ nói tiếng Tây rốp rốp, tôi bỗng thành ra thông dịch viên tình nguyện cho mấy thằng Tây đó. Nó cũng nể, có người có học ở trong xóm nầy, biết tiếng Pháp nên xét qua loa rồi kéo ra lộ”.
Đã gần 12 giờ khuya, giới nghiêm rồi làm sao mà về nhà đây… Năm cũng biết vậy nên biểu tôi vô nhà ngủ, sáng sớm sẽ về. Mà trong nhà chỉ có một chiếc chõng tre một người nằm, tôi ngủ chung trên chõng đó sao được. Bởi vậy tôi kiếm giấy nhựt trình trải dưới đất, tính dọn một chỗ để ngã lưng qua đêm. Ai dè Năm cười cười: “Bộ tính ngủ ở dưới nền đất thiệt sao? Ngủ như vậy, tới sáng thì bịnh đó”
- Thì cũng ráng chịu, bụng làm dạ chịu, đâu có than van… Tôi trải giấy nhựt trình xong, sửa soạn nằm xuống.
- Năm nói: “Nè, hỏi thiệt, anh có thương tui hông? Có muốn thiệt tâm làm vợ làm chồng với tui hông? Nói thiệt đi…
- Thiệt tình tôi thương Năm, tôi thề…
- Khỏi thề! Lên giường đây ngủ. Anh đàng hoàng hay không đàng hoàng, tui biết liền…
Ông Sển kể tới đó, chúng tôi ôm bụng cười nghiêng ngửa. Bà Năm dọn cơm lên, hỏi: “Nè cái ông già mắc dịch nói bậy gì mà các anh cười dữ vậy?”.
Tôi đỡ lời cho mọi người: “Dạ, ông Năm kể chuyện ông Trượng với Tiên Bửu, chuyện hát cương hồi xưa đó mà…”
- Thôi, lại ăn cơm đi, đừng nghe ổng nói chuyện đời xưa nữa…
Ông Sển vẫn thích nói chuyện đời xưa, ông nhắc:
Hồi 1947, 48, 49, đang hồi chiến tranh Việt Pháp còn sôi động, công tác thành của Việt Minh liệng lựu đạn vô các dancing, quán nhậu, rạp hát vì nơi đó có bóng dáng của lính partisan, lính mã tà, lính rờ sẹt… Anh Năm Bằng, lính rờ sẹt, chồng của cô bé Hoàng Vân, diễn viên đoàn Hậu Tấn – Năm Nghĩa bị ban ám sát VM bắn chết trước cửa rạp hát Thuận Thành Dakao.
Lần khác, anh Thomas, người Việt lai Pháp, ở bên kia cầu Bông, vừa qua khỏi cầu, quẹo lại rạp hát Thuận Thành, bị bắn ngã trọng thương. Chở tới bệnh viện thì chết. Rạp hát bóng Asam (Dakao), tiệm cơm tây La Cigale bị liệng lựu đạn… Còn nhiều vụ bắn lộn, ám sát, liệng lựu đạn nữa nên trước tình hình lộn xộn đó, ông Sển dù đang làm công chức, lương bổng dư sống nhưng đêm đêm ông cũng phải đạp xe đạp hiệu Peugeot đưa vợ ông là bà Năm Sadec đi hát và rước về khi vãn hát.
Ông sợ những tai nạn dọc đường, những bọn cướp cạn và bọn lính Tây đi ruồng bố. Ông biết nói tiếng Tây, lại đang là một công chức nên coi như ông là một bảo đảm cho vợ khỏi bị hoài nghi có dính dáng tới bên kháng chiến.
Bà Năm Sa Đéc và ông Vương Hồng Sển

Bà Năm Sadec tên thật là Nguyễn Kim Chung, sanh năm 1907 (Mậu Thân) tại Sadec. Cha là ông bầu gánh hát bội tên Nguyễn Duy Tam, gọi là bầu Tam. Bà Năm Sadec được cha dạy hát từ nhỏ, từng hát trên sân khấu nhà. Lúc nổi danh, hát trên sân khấu Bà Ba Ngoạn ở rạp hát Palikao, Chợ lớn, bà Năm Sadec nổi danh là cô Năm Nhỏ, sau qua hát cho gánh hát Bầu Thiềng và vài gánh hát bội khác. Đến khi chuyển qua hát cải lương thì mới dùng nghệ danh Năm Sadec cũng như các bạn cô Ba Trà Vinh, cô Ba Bến Tre, cô Năm Cần Thơ…
Khi hát cho đoàn hát Phụng Hảo, bà Năm Sadec hát vai Mạnh Phu Nhơn trong tuồng Mạnh Lệ Quân thoát hài, bà đã hát khiến cho khán giả khóc mùi mẫn. Khi hát vai Đổng Trác trong tuồng Phụng Nghi Đình, bà làm cho khán giả cười nôn ruột. Khán giả ái mộ nhớ hoài vai bà Phán Lợi trong tuồng Đoạn Tuyệt. Thanh Nga vào vai cô giáo Loan, Việt Hùng vai Thân, thằng chồng khờ và Ngọc Nuôi trong vai Bích, cô em chồng đanh đá. Bà Năm Sadec trong vai bà Phán, không cần có thái độ hầm hừ, những cử chỉ hung dữ, chỉ cần giọng nói ngọt mà đay nghiến đủ cho khán giả thấy rõ tánh chất của một bà mẹ chồng phong kiến, ỷ giàu hà hiếp con dâu. Một hình tượng khắc sâu vào tâm khảm của khán giả, mấy chục năm sau cũng khó quên.
Bà Năm Sadec được mời đóng các vai bà má nông dân, bà Phán, bà Huyện trong các chương trình Thép Súng, chương trình Gia đình Bác Tám và các chương trình của các Ban kịch Kim Cương, Túy Hồng, Thẩm Thúy Hằng, Phương Nam. Khi vào vai hiền hay vai dữ, vai người phụ nữ giàu sang hay bần cùng, vào vai nào bà Năm Sadec cũng diễn tả như mẫu người thật mà chúng ta có nhiều dịp gặp trong cuộc sống. Không bao giờ cường điệu, hát quá lố nhưng không có nghệ sĩ nào diễn hay như bà.
Đối với đồng nghiệp, bà Năm Sadec được sự nể trọng của mọi người. Làm việc luôn luôn đúng giờ, chu đáo và không bao giờ gây khó dễ cho bầu show hay các nghệ sĩ cùng trong một suất hát.
Ngoài tài năng và đức độ của một người nghệ sĩ lão thành đáng kính như bà Năm Sadec, tôi nhớ về bà có một chuyện mà suốt đời tôi không thể nào quên.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các nghệ sĩ nghe tin loan trên đài phát Thanh là phải đến đăng ký tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon cũ, kế bên Bộ Sắc Tộc ở đường Nguyễn Du, ai không đăng ký sẽ bị cấm hành nghề. Tôi đến vào khoảng 12 giờ trưa, thấy có nghệ sĩ của đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, đoàn Dạ Lý Hương… các nghệ sĩ lão thành: anh Năm Châu, anh Văn Lâu, Tám Lắm, Bà Năm Sadec, chị Kim Cúc, Kim Lan, Tám Vân, Minh Tơ, Thành Tôn, chị bảy Ngọc Hương…
Ngồi bàn thơ ký ghi chép tên nghệ sĩ đến đăng ký, tôi thấy có anh kép Năm Sơn mà chúng tôi quen gọi là Năm Thịt. Năm Sơn là anh kép hát nằm vùng, bây giờ mới lộ mặt ra. Tôi vừa đăng ký xong, người đi kế tôi là bà Năm Sadec. Khi bà Năm Sadec tới ghi tên thì kép Năm Sơn chận lại, nói: “Chị tố Cộng trong Ban Thép Súng Đài Truyền Hình quân đội Ngụy, chưa bắt giam chị là phước cho chị rồi. Không được đăng ký!”.
Bà Năm Sadec như bị một gáo nước dơ dội vô mặt, loạng choạng như muốn té sụm xuống trước bàn viết của tên kép hát nằm vùng đó, mặt bà xanh dờn, đôi môi run run, tôi vội dìu bà bước ra ngoài vì không biết bà sẽ phản ứng ra làm sao, e gặp rác rối. Ra tới trước cửa bà Năm Sadec nói với tôi, giọng nói bình tĩnh trở lại: “Được rồi. Nguyễn Phương về đi. Tôi không sao đâu. Để tôi kiếm xe đi về nhà”.
Tôi nói: “Ở đây khó kiếm xe lắm. Để tôi chở chị về nhà nghỉ cho khoẻ”. Tình cờ, nhìn vô nơi các nghệ sĩ đăng ký, tôi thấy anh Năm Châu, chị Kim Cúc, Kim Lan, anh Thành Công, anh Chín Sớm, soạn giả Mộc Linh ra về, mắt nhìn xuống đất… Tôi nói : Chị Năm coi kìa, anh Năm Châu, chị Kim Cúc, ca sĩ Thành Công…
Bà Năm nhìn theo tay tôi chỉ, cười buồn : “Tôi thì không sao, mấy người đó chắc sẽ khổ. Anh Năm Châu bị họ ghim vì anh lập gánh hát Ánh Chiêu Dương, được ông Hồ Văn Châm, Bộ Thông Tin Chiêu Hồi giúp đỡ tiền bạc…”
Sau đó mấy tháng, tôi được biết anh Năm Châu bị mời đi học tập kiểm thảo tập trung trong tòa tỉnh trưởng Gia định trong ba tháng. Ca sĩ Thành Công, soạn giả Mộc Linh, Chín Sớm bị đi học tập cải tạo 7 năm ở trại cải tạo Hàm Tân.
Theo các bạn của tôi kể lại, năm 1986, khi ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố cởi trói cho văn nghệ sĩ thì bà Năm Sadec mới được mời vô Đồng Tháp Mười đóng phim, trong vai bà già nông dân. Bà đóng được ba phim ở Nha Mân, Sadec, nơi chôn nhau cắt rún của bà và ở Đồng Tháp Mười bà đóng phim Phù Sa trong mùa nước nổi, giữa nắng lửa và muỗi mòng, hai ngày sau khi bà hết đóng phim, bà trở về Saigon và chết vì kiệt sức. Khi bà mất, không có ai thông báo cho nghệ sĩ biết để đi viếng, phúng điếu, tiễn đưa bà. Chỉ có những người trong xóm của bà và các bạn nghệ sĩ làm phim chung với bà, biết bà mất, đến tiễn đưa.
Bà cũng không được quàn ở nhà Hội Nghệ Sĩ ở đường Cô Bắc, không được chôn ở nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp. Ông Vương Hồng Sển di quan của bà, đem về chôn cất ở Nha Mân, quê hương của bà.
Trong bài điếu văn của ông Vương Hồng Sển khóc vợ, có đoạn kết như sau:
Trăm năm gì nữa? Muôn thuở là đây;
Trời quên mất đời còn một lũ, quyết thư hùng vì ấn tướng ngôi vua;
Bà đi rồi, tôi khổ muôn phần, sống cô độc giữa bình xưa lọ cổ;
Thôi, thôi;
Bà vào cửa hư vô bất diệt, nhớ đến thăm Năm Phỉ, Bảy Nhiêu;
Tôi đợi tin Bắc Đẩu, Nam Tào, sẽ tìm đến Năm Chung, Tư Bốn.
Ô hô!
Đây sầu riêng, đây vú sữa, của chồng công vợ, kẻ mất người còn, nghẹn ngào dâng một lễ đơn sơ;
Đây rượu cúc, đây hương trầm, kẻ mất người còn, đau đớn khóc ngàn thu vĩnh biệt.
Hỡi ôi, Thương thay; Có linh xin hưởng.
Bà Năm Sadec sinh năm 1907, mất năm 1988.
Ông Vương Hồng Sển sinh năm 1902, mất năm 1996.
Kính nhớ anh chị Vương Hồng Sển và Nguyễn Kim Chung (Năm Sadec).

Soạn giả NGUYỄN PHƯƠNG

 03/2018


Bà Năm Sa Đéc - niềm tự hào của xứ Sen Hồng

Đã từ lâu, nghệ danh “Bà Năm Sa Đéc” luôn được người dân Nam Bộ, nhất là bà con vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long truyền khẩu, ngợi ca về nữ nghệ sĩ tài sắc vẹn toàn. Bà Năm Sa Đéc đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho nghệ thuật hát bội, cải lương, kịch nói và điện ảnh nước nhà. Nhân dịp mừng Xuân Tân Sửu-2021, kể về huyền thoại “Bà Năm Sa Đéc” để mọi người cùng hoài niệm về một tài hoa đức hạnh lưỡng toàn.
Sản phẩm mới (hủ tiếu nghệ) của Công ty TNHH MTV SXKD Hủ tiếu khô Bà Năm Sa Đéc
Bà Năm Sa Đéc, tên thật là Nguyễn Kim Chung, sinh năm 1907, con của cụ Hương Cả Nguyễn Văn Tam (Cả Tam); cháu nội của cụ Hương Cả Nhiều, chính quán tại làng Tân Đông, tổng An Thạnh Hạ, quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay là ấp Đông Quới, xã Tân Khánh Đông, TP Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp). Cụ Cả Tam có 5 người con, 3 người con đầu do khó nuôi nên đã lần lượt qua đời, chỉ còn lại 2 người con là “Bà Năm Sa Đéc” và ông Nguyễn Duy Cang (sáu Biết). Năm 1915, cụ Cả Tam thành lập và làm “bầu” gánh hát bội “Thiện Tiền Ban” đầu tiên tại tỉnh Sa Đéc.

Do có tài năng ca hát, diễn xuất năm 1928, bà gia nhập đoàn gánh hát Phước Tường. Sau đó, bà lần lượt cộng sự với các đoàn Phụng Hảo, Vân Hảo, Thanh Minh - Thanh Nga… Từ sân khấu hát bội bước qua lĩnh vực cải lương, nên nghề nghiệp của bà rất vững vàng, rực sáng trên sân khấu nghệ thuật cải lương. Trong thời gian lưu diễn, bà có rất nhiều khán giả ái mộ và cũng có một vài mối tình đầu đời. Vào năm 1938 - 1939, một trong những mối tình hương sắc mặn nồng giữa bà và ông Đốc phủ sứ Đặng Ngọc Chấn (quê tỉnh Long An) đã cho ra đời một cậu con trai. Nhưng vì một lí do tế nhị nên tình duyên của đôi “trai tài-gái sắc” này không thành vợ chồng. Bà âm thầm, lặng lẽ nuôi con và đặt tên cho con là Nguyễn Ngọc Đặng!

Sản phẩm hủ tiếu nghệ của Công ty TNHH thực phẩm Bà Năm Sa Đéc

Tình yêu tan vỡ, bà đã dồn hết tâm sức, trí lực cho nghệ thuật sân khấu cải lương, kịch nói… Bằng tài năng ca diễn xuất chúng nên danh tiếng của bà vang lừng khắp nơi, với nhiều vai diễn ăn sâu vào lòng người mộ điệu lúc bấy giờ. Đến năm 1947, bà đã phải lòng và kết nghĩa tơ hồng với học giả, nhà biên khảo Vương Hồng Sển, nguyên Giám thư Bảo tàng Viện Sài Gòn. Suốt hơn 40 năm chung sống với cụ Vương, bà sinh một con trai (Vương Hồng Bảo). Như vậy, bà có 2 con trai (Nguyễn Ngọc Đặng, sinh năm 1939 và Vương Hồng Bảo, sinh năm 1951).

Không chỉ thành công trong lĩnh vực sân khấu ca kịch cải lương, bà còn là minh tinh điện ảnh tài-sắc vẹn toàn luôn được nhiều người ngưỡng mộ, qua các bộ phim Lệ đá, Con ma nhà họ Hứa (trước năm 1975) và nhiều bộ phim sau năm 1975 là “Cho đến bao giờ”, “Mùa nước nổi”, “Con thú tật nguyền”, “Nơi bình yên chim hót”… Và năm 1987, bà thủ diễn vai bà Hai Lành trong bộ phim Phù sa. Sau khi quay xong cảnh trong phim tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, trên đường về bà có ý định ghé thăm quê nhà Sa Đéc, nhưng do tài xế quên cho xe chạy tới phà Mỹ Thuận nên tài xế xin lỗi bà và hẹn lần sau sẽ chở bà về thăm quê. Một năm sau, bà bị bệnh đột ngột và qua đời vào ngày mồng 8 tháng Chạp năm Đinh Mão (1988). Thi hài nữ nghệ sĩ tài hoa đã được chồng và con cháu đưa về an táng tại nơi mà bà ra đời hơn 80 năm trước

Ông Thái Thanh Sang, cháu ruột bà cho biết, vào những năm cuối thập niên 40 của thế kỉ XX, lúc bà về chung sống với cụ Vương, do vóc dáng nhỏ nhắn, xinh đẹp nên cụ Vương thường gọi vợ là “cô Năm Nhỏ”. Lúc bấy giờ, khi cô Năm Nhỏ Kim Chung đi hát diễn cùng trong một gánh hát nọ lại có một cô đào Năm Nhỏ quê ở Cần Thơ và hai nghệ sĩ này đều nổi tiếng trên lĩnh vực nghệ thuật sân khẩu cải lương. Để phân biệt hai người với nhau nên nhiều nghệ sĩ trong đoàn hát gọi cô Năm Nhỏ Kim Chung bằng danh xưng cô Năm Sa Đéc (Năm Nhỏ Kim Chung quê ở Sa Đéc). Từ đó, nghệ danh Bà Năm Sa Đéc vang danh cho tới ngày nay.

Về cái gọi là “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc” từng nổi tiếng trên đất Sài Gòn, theo ông Thái Thanh Sang và nhà thơ Trần Minh Tạo, bản thân bà Năm Sa Đéc và các con, cháu của bà từ xưa tới nay không có ai làm nghề bán hủ tiếu hay sản xuất bánh hủ tiếu. Sở dĩ có tên “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc” là do, vào năm 1973, người con trai thứ ba của người yêu cũ hồi còn trẻ của bà (quê ở vùng Mỹ Tho, Tiền Giang ngày nay) mở quán bán hủ tiếu tại Sài Gòn. Do hiểu biết, trân trọng mối tình cũ của cha mình và ái mộ tài danh của bà Năm Sa Đéc, nên ông xin làm con nuôi của bà. Sau đó ông xin được lấy nghệ danh của bà đặt tên cho quán hủ tiếu của mình và được bà Năm chấp thuận. Nhờ tài nghệ chế biến tô hủ tiếu thơm, ngon, hợp khẩu vị với thực khách nên quán “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc” thu hút được nhiều người đến thưởng thức. Từ đó, thương hiệu “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc” vang xa. Sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975), quán “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc” còn bán một thời gian rồi đổi chủ. Hiện chủ quán “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc”, con nuôi của bà Năm Sa Đéc đang định cư ở Thụy Điển và vẫn theo nghề bán hủ tiếu với thương hiệu “Bà Năm Sa Đéc” như xưa. Trong quán có treo hình Bà Năm Sa Đéc tại một nơi rất trang trọng để tưởng niệm, yêu thương và ái mộ.

Nói về hủ tiếu Sa Đéc (chứ không phải tô hủ tiếu), nhà thơ Trần Minh Tạo chia sẻ: Hủ tiếu Sa Đéc nổi danh xưa nay là nổi danh về “sợi bánh hủ tiếu” được làm ra từ nguyên liệu bột gạo mới của làng nghề làm bột trứ danh Tân Phú Đông (Sa Đéc). Qua bàn tay chế biến của những người thợ lành nghề đã cho ra sản phẩm sợi bánh hủ tiếu đặc trưng của bột Sa Đéc mà không lẫn lộn với hủ tiếu sản xuất nơi khác. Sợi bánh hủ tiếu Sa Đéc khi chế biến thành tô hủ tiếu, người sành điệu về ẩm thực khi thưởng thức thấy rất ngon miệng. Bởi, sợi bánh mềm không bở và không dai, vị bánh không chua và không mặn, hương bánh phảng phất mùi thơm của bột gạo.

Vì mến mộ tài năng, đức hạnh của bà Năm Sa Đéc nên gần đây có người mở quán hủ tiếu, hay lò sản xuất sợi bánh hủ tiếu (không có quan hệ họ tộc gì với bà) đã “mượn” danh tiếng Bà Năm Sa Đéc đưa làm bảng hiệu cho cơ sở kinh doanh, sản xuất của mình như: Quán “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc”, lò “hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc”, Công ty TNHH Thực phẩm Bà Năm Sa Đéc chuyên sản xuất bánh hủ tiếu, bánh phở, mì quảng…

Theo ông Sang, các con cháu của bà Năm Sa Đéc ngày nay không có ai nối nghiệp của bà. Ông Nguyễn Ngọc Đặng lập gia đình, có 3 người con và mất ngày 4/7/2005, hưởng thọ 67 tuổi. Thi hài của ông cũng được đưa về an táng bên cạnh mộ bà Năm Sa Đéc. Vợ và các con ông Đặng hiện đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh.

Căn nhà to rộng, cổ kính với 3 gian, 2 chái xây trên khu đất rộng cạnh con đường nhỏ Cái Bè - Cai Khoa của cụ Cả Tam không còn, do giặc Tây đốt năm 1954. Hiện mảnh đất rộng hơn 5 công đất do gia đình ông Sang sở hữu, cất nhà, lập vườn trồng xoài cát Hòa Lộc và lo hương khói, mồ mả, giỗ kị cho bà Năm Sa Đéc cùng các thành viên trong dòng tộc.

Suốt cả một đời hơn 80 năm tại thế, bà Năm Sa Đéc đã sống và cống hiến hết mình cho nghệ thuật. Nhắc đến Bà Năm Sa Đéc, người dân Sa Đéc và Đồng Tháp rất tự hào, vì bà đã góp phần làm rạng danh quê hương.

Trần Trọng Trung

Đặc sản hủ tiếu Sa Đéc

Hủ tiếu bà Năm Sa Đéc

Dù người nghệ sĩ tài danh, người vợ của học giả Vương Hồng Sển đã an giấc nghìn thu nhưng tên tuổi bà vẫn gắn với món hủ tiếu Sa Đéc nổi danh qua gần nửa thế kỷ.    

“Thương hiệu” độc đáo

Thời gian trôi qua cuốn theo nhiều thứ vào quên lãng, nhưng nhắc đến bà Năm Sa Đéc người ta lại nhớ đến hủ tiếu Sa Đéc và ngược lại. Bà Năm Sa Đéc tên thật là Nguyễn Kim Chung, sinh ở làng Tân Khánh Đông, Sa Đéc (nay thuộc xã Tân Khánh Đông, TP.Sa Đéc, Đồng Tháp). Trong lớp sân khấu đỉnh cao ngày xưa, bà là người tài sắc lưỡng toàn được công chúng mến mộ. Dù thành danh, có tên tuổi nhưng sau năm 1973 do đời sống sân khấu, điện ảnh khó khăn nên bà Năm Sa Đéc đã bươn chải, mở quán hủ tiếu ở Sài Gòn. Tên tuổi của bà bước đầu đã đảm bảo cho quán, nhưng để giữ được chân khách là do hủ tiếu quá ngon.
Theo ông Nhất Thống, Hội Khoa học lịch sử TP.Sa Đéc, hủ tiếu bà Năm nấu mang đậm hương vị quê nhà Sa Đéc. Sợi bánh mềm mà không bở, cũng không dai, vị bánh không chua, hương bánh thơm mùi gạo mới, trắng tươi màu sữa. Có người kháo nhau rằng, bánh hủ tiếu được bà Năm lấy từ làng bột Tân Phú Đông (Sa Đéc) mỗi ngày, do cánh xe đò Sa Đéc - Sài Gòn chuyển tới. Người ăn có thể gọi hủ tiếu thịt hoặc hủ tiếu xương tùy thích, mà xương hay thịt thì cũng mềm và có mùi thơm đặc biệt không như những nơi khác. Cái mùi thơm ấy là do "tay nghề" của bà Năm khi chế biến và đun nấu nồi nước lèo ở nhiệt độ thích hợp. Khi tô hủ tiếu được bưng ra, mùi thơm ngào ngạt, thực khách có thể gia giảm nào là nước mắm, nước tương, dấm đỏ, chanh, ớt, giá nhúng nước sôi hay giá sống mà vẫn không đánh mất hương vị độc đáo của tô hủ tiếu Sa Đéc chính hiệu này. Nhờ quán có doanh thu mà chồng bà là học giả Vương Hồng Sển an tâm nghiên cứu, khảo cứu.
Quán hủ tiếu ấy sau năm 1975 tồn tại được một thời gian. Bây giờ, quán vẫn còn đó nhưng đã đổi chủ. Tiếc thay, bà Năm mất thì con cháu không ai nối nghiệp để duy trì và phát triển cái "thương hiệu" độc đáo giữa một thành phố sôi động văn hóa ẩm thực. 
Thế nhưng ngày nay, đi ngang qua P.An Hòa (TP.Sa Đéc), du khách và người dân bản xứ hay gặp một tiệm bánh với bảng đề tên khá to “Hủ tiếu Bà Năm Sa Đéc”. Không lẽ con cháu bà quay lại nghiệp xưa? Đem chuyện này hỏi những người nghiên cứu ở Sa Đéc thì được biết chủ kinh doanh và bà Năm Sa Đéc chẳng có quan hệ gì nhau, nhưng lúc trước do mến mộ tên tuổi bà nên mở quán bán bánh hủ tiếu lấy tên người xưa. 
Về nơi đất mẹ
Ông Đinh Công Thanh (78 tuổi, ngụ TP.Sa Đéc) là nhà báo về hưu đang dành sức lực viết sách về cuộc đời các nghệ sĩ tài danh, tài tử xuất thân từ Sa Đéc. Ông kể, vì cùng quê với nhau nên giữa Sài Gòn, ông Thanh và bà Năm có quan hệ hữu hảo, ông gọi bà bằng cô và gọi người con riêng của bà Năm cũng trạc tuổi ông là ông Nguyễn Ngọc Đặng bằng bạn.
Lục lại tư liệu xưa và các bài viết do bản thân thực hiện về bà Năm Sa Đéc, ông Thanh nói bà Năm là con của ông Nguyễn Văn Tam, người lập gánh hát bội đầu tiên ở Sa Đéc mang tên Thiện Tiền Ban ra đời vào năm 1915. Lúc 7 - 8 tuổi, bà Năm mê hát lắm, đêm nào bà cũng được anh cõng đi coi hát rồi bập bẹ theo. Cho nên sau này bà bước vào nghiệp sân khấu được cha mẹ đồng ý chứ không nặng thành kiến “xướng ca vô loài”. Chồng trước của bà Năm là đốc phủ sứ tên Ch. và 2 người có con riêng là Nguyễn Ngọc Đặng. Ông Thanh ngậm ngùi, bà tài danh, hương sắc vẹn toàn nhưng cuộc sống chung quy vẫn có những khổ tâm, nỗi buồn riêng khó thổ lộ.
Ông Thanh kể tiếp, lúc sinh thời ông Đặng hay than phiền ông xin đi theo nghiệp mẹ hát bội, hát cải lương nhưng bà Năm nhất quyết can ngăn. Bà Năm khuyên con hãy lấy bà làm gương, dính vào nghề tổ cả đời khổ tâm, khổ thân. Thế nhưng, do có lẽ máu di truyền nên ông Đặng không làm kép hát được thì đi đóng phim. Ông đã đóng các vai phụ trong các phim như Ván bài lật ngửa, Người đẹp Tây Đô, Ngọn nến hoàng cung... và nhiều vai phụ khác. Ông Thanh nói: “Lúc 50 tuổi, ông Đặng để râu dài tới ngực, nhìn như ông cụ, ngay cả cách đi đứng cũng giống như ông già. Ấy là do ông quá mê nghệ thuật nên bất chấp ngoại hình già nua. Ông Đặng được mời đóng vai ông già hay tiên ông trong các phim ngắn, phim thiếu nhi, phim quảng cáo. Năm 2005, ông bệnh nặng qua đời, một số tạp chí đưa tin với tựa đề: Ông tiên đã về trời”.
Bà Năm mất, thi hài được đưa về đất mẹ. Mộ bà Năm nằm ở phường Tân Khánh Đông, nơi ấy có cháu con chăm sóc. Và làng làm bột Tân Phú Đông vẫn còn kia, các quán hủ tiếu ở Sa Đéc với đủ cách chế biến và giá cả từ thấp đến cao vẫn còn hiện diện ở ngay Sa Đéc. Nhưng nhắc đến hủ tiếu là nhớ đến bà Năm dù bà đã thanh thản đi về cõi bên kia.
Thanh Dũng
 

Chuyện về bánh bao Cả Cần nổi tiếng ở Sài Gòn vào những năm 70 của thế kỷ trước 

Nói về ẩm thực ở Sài Gòn thì phải nói là đa dạng từ món ăи, cách nấu cho đến người làm ra món ăn ấy. Ở Chợ Lớn, tại khu người Hoa đặc biệt nổi tiếng là nấu ăn ngon hợp khẩu vị của nhiều người từ hủ tiếu, sủi cảo, há cảo, bánh bao,… Tuy nhiên khi nhắc đến bánh bao thì ngoài bánh bao được làm bởi người Hoa thì người ta còn nhớ đến loại bánh bao Cả Cần. Món ăи của người Hoa có độ bóng đẹp bởi người ta thường chiên xào đồ ăn bằng nhiều dầu nên nhân bánh bao mà người Hoa làm khi ăn vào sẽ cảm thấy có nhiều dầu và trộn lẫn cả cá bên trong nhân. Tuy nhiên đối với nhân bánh bao Cả Cần thì hoàn toàn được làm bằng thịt băm nên khi ăn sẽ cảm nhận được vị ngọt của thịt. Nhìn bên ngoài thì bánh bao Cả Cần hơi hẩm chứ không được trắng như bánh bao của người Hoa vì bánh bao Cả Cần không sử dụng bột tẩy. Khi cắn lớp vỏ bánh bên ngoài thì cảm nhận được vị bùi, ăи không dính răng. Bánh bao Cả Cần được sản xuất tại Sài Gòn, đậm vị bánh được làm ra bởi người dân miền Nam Việt Nam.

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, bánh bao Cả Cần đã xuất hiện ở một vài quán ăи nhỏ và được nhiều người biết đến ở khu vực Nguyễn Tri Phương – Chợ Lớn cũ. Bây giờ nó đã được phát triển với quy mô lớn, nằm hẳn hoi một quán xá to lớn và mát mẻ nằm cạnh ngã 4 Nguyễn Tri Phương – Hùng Vương, trước côɴԍ viên Văи Lang.

Ông Trần Phấn Thắng là người đã làm ra bánh bao Cả Cần và món ăи ấy như một “lão làng” được nhắc đến trong lịch sử ẩm thực Sài Gòn. Ngày nay quán vẫn đông khách, ngoài bánh bao thì quán còn bán cả hủ tiếu nhưng nhiều người vẫn thích ăn món bánh bao Cả Cần của ông Trần Phấn Thắng làm ra. Tuy nhiên sau năm 1979 cả nhà ông đã ᴅι cư sang Canada sinh sống, hiện nay ông Cả Cần đã không còn.

Ông Trần Phấn Thắng là người gốc Mỹ Tho, anh của ông thời Việt Nam Cộng Hòa có chức vị là sỹ quan Quân Lực VNCH, còn ông Thắng là người con thứ 3 trong gia đình. Nhạc sĩ Lê Thương, nhà báo và dân biểu đối lập thời VNCH Lý Quý Chung cũng từng là bạn của ông Thắng. Thời đó, ông Thắng là người có tâm  нồn nghệ sĩ và rất thích văи chương. Vậy nên ông có bạn là nhạc sĩ, nhà báo cũng là chuyện bình thường.

Ông Cả Cần có niềm yêu thích con chữ đến nỗi ông khá thích những chữ có cùng phụ âm. Ngay cả câu châm ngôn quảng cáo thương hiệu của ông, ông cũng đặt là: “Có Cả Cần Cần Chi Có Cả”.

Sự ra đời của quán Ông Cả Cần

Hai vợ chồng ông bà Cả Cần làm việc trong Việt Nam Cộng Hòa nhưng đã nghỉ việc và ra làm kinh doanh riêng, mở quán bán hủ tiếu và bánh bao. Bà Cả Cần quê gốc ở Bến Tre và có tài nấu ăn rất ngon. Còn ông Cả Cần thì có tài ngoại giao giỏi và quen biết rộng rãi nên quán của hai ông bà được khá nhiều người biết đến. Bà Cả Cần có bí kíp nấu nước lèo rất ngon, một khi ăи là ghiền. Cách bài trí món ăи của bà cũng thật đơn giản, chỉ có xá xíu với tôm lên trên nhưng hủ tiếu bà nấu thì ngon không đâu bì kịp. 

Với sự quen biết rộng rãi của mình, ông Thắng đã mượn nghệ danh của cô Năm Sa Đéc (vợ của cụ Vương Hồng Sển) để quảng cáo cho tiệm Ông Cả Cần và có gửi cho bà chút tiền hằng tháng coi như là tiền cảm ơn. Vậy nên bà Năm chỉ là người được ông Thắng mượn danh nghĩa chứ không hề liên quan đến chuyện nấu món ăи của tiệm Ông Cả Cần. Toàn bộ món ăn hủ tiếu, bánh bao đều được vợ của ông Thắng nấu. Tên quán “Ông Cả Cần” cũng được đích danh ông Thắng đặt.

Vào khoảng những năm 70, quán ăn của ông Thắng nằm ở giữa đường, chắn ngang con đường Nguyễn Trãi khiến Đô Trưởng Đỗ Kiến Nhiễu phải bắt dỡ bỏ tiệm. Hai vợ chồng Thắng không nghe, quyết theo kiện tới cùng nên ông bà vẫn giữ được quán ăn.

Gia đình ông Cả Cần đã rời khỏi Việt Nam 

Sau năm 1975 có nhiều biến đổi trong đời sống kinh tế và xã hội ở Sài Gòn. Về phần gia đình ông Thắng thì vẫn giữ được một số tài sản nên quyết định định cư ở nước ngoài và sống ở Montreal, Canada. Sau đó, với số tiền mang theo ít ỏi trước khi rời Việt Nam, ông cũng mở được 2 quán ăn. Một quán tên ONG CA CAN ở trên đường Catherine. Quán thứ hai ở Côte des Neiges. Vào khoảng những năm 89 – 90, ông bà cũng có quay lại Sài Gòn để tìm lại quán ăи cũ của gia đình mình. Sau này quán để lại cho người quen và người thân trông nom còn ông bà thì quay lại Canada. Tuy nhiên cách chế biến của quán bị thay đổi ít nhiều, một phần vì người trông nom quán không có được công thức nấu nước lèo của bà Cả Cần, một phần là nước lèo bị chế biến lại, cho nhiều thứ khác lên trên, không còn nguyên vị của món ăn Ông Cả Cần nữa. Có người nói rằng nếu ăn đồ ăn ở quán Cả Cần thì có thể ăn buổi chiều để nếm được hương vị bánh bao đúng chuẩn, vì bánh bao này được một bà con của ông bà Cả Cần làm, bà ấy được bà Cả Cần chỉ cho làm món bánh bao ấy nên vẫn giữ được vị của nó.

Ông Cả Cần quay lại Việt Nam

Bà Cả Cần sau này bị tai biến mạch máu não, bà cứ nằm như thế và qua đời vào năm 1995. Con cái cũng ít người nối nghiệp của ông bà. Ông Cả Cần thì cũng về Việt Nam để làm ăи nhưng rồi cũng qua đời ở đây. Một trong hai quán ăn của ông bà ở Canada cũng đóng cửa. Còn quán ăn ở đường Nguyễn Tri Phương, Sài Gòn có tên là Ông Cả Cần có thể là lúc ông Cả Cần quay trở lại nước để làm ăn.

Thời xưa

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2021

NTV - Nguồn gốc địa danh Sa Đéc và những danh lam nổi tiếng (P2)

Đây dấu tích xưa,
Dấu tích ngàn xưa chẳng nhạt phai,
Người đi như thể cánh chim bay....
Để bao thương nhớ cho người ở,
Chốn cũ giờ đây ai khóc vay ?
Ngàn hoa tô điểm thêm hương sắc,
Một thuở tình yêu thuở đắm say...
Giờ chỉ dư âm lưu phố cổ,
Người tình xưa ấy cũng chia tay !!
NM

Nguồn gốc địa danh Sa Đéc

(Nguồn: “Tìm hiểu nguồn gốc Địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết” của Nguyễn Hữu Hiếu)
Sa Đéc ngày nay là một trong hai thị xã của tỉnh Đồng Tháp
Hai tiếng Sa Đéc có lẽ xuất phát từ âm của tiếng Phsa ădek của người Khmer hạ, một vị thủy thần gốc Khmer. Trong sách Đại Nam nhất thống chí Lục tỉnh Nam Việt, phần Tự quán (trang 38-39), có chép:
Chùa Tô Sơn ở địa phận thôn Hưng Nhượng, huyện Hà Dương (tỉnh An Giang), phía tây núi có viên đá hình con rùa. Người xưa truyền rằng: gặp khi trời hạn thì đến đấy cầu đảo ắt có được mưa, thổ nhơn bèn lập đền ở chân núi để thờ, gọi là Sa Đéc (tức là Thủy thần)”.
Trong khi đó trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện sau:
Ngày xưa ở đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu), có một tên chúa đất họ Thạch, vừa giàu có, vừa hung ác. Đất đai cò bay thẳng cánh, con thỏ, con nai ở trong rừng; con cá, con tôm ở dưới sông, con chim ở trên trời… tất cả đều là của họ Thạch. Ai hái, bắt thứ gì mà không nộp một nửa hoa lợi thì đừng hòng thoát khỏi tay y. Đám thuộc hạ của y làm tai mắt ở khắp nơi.
Chúa đất họ Thạch giàu có như vậy mà chỉ có mỗi một mụn con gái. Tên nàng là Phsa-dek, xinh đẹp, tính tình nhân hậu hoàn toàn khác cha. Một hôm, nàng dùng ghe lườn cùng nàng hầu rong chơi trên sông Tiền, chẳng may gặp mưa to gió lớn, ghe bị chìm. Trong lúc chủ tớ đang loai ngoai chờ chết, bỗng đâu có một thanh niên lao xuống cứu được cả hai.
Chàng trai nọ đưa hai người về chòi của mình chăm sóc. Khi tỉnh lại, hai người trò chuyện mỗi lúc mỗi thân mật, gắn bó. Nàng hỏi:
- Chàng đang ở trên đất của ai, chàng biết không?
- Biết chớ, toàn vùng này đều là đất của chúa đất họ Thạch ai mà không biết.
- Chàng không sợ ông ta à?
- Có gì mà phải sợ. Tôi từ phương xa tới đây, đất đai, sông nước là của trời sinh, chỗ nào thích là tôi ở. Ông Thạch đâu có sinh ra đất này hoặc khai khẩn gì đâu mà nói là của ổng.
Phsa-dek không cho chàng biết mình là con gái của chúa đất. Từ đó hai người thường lén lút gặp nhau. Bọn thuộc hạ cho tên chúa đất biết chuyện này. Lập tức hắn nhốt nàng lại và lệnh cho tìm bắt chàng trai nọ cho kỳ được. Bọn thủ hạ truy lùng chàng trai, chàng nhanh chân thoát được, nhưng trúng phải tên độc. Tưởng chàng đã chết, chúng bỏ đi. Nhưng may mắn, chàng được một người đi rừng tình cờ cứu sống. Chàng giữ lại mũi tên có khắc chữ Thạch để mưu tính chuyện trả thù.
Ngày nọ, chàng đột nhập vào dinh cơ tên chúa đất, đốt phá cho đã, rồi bắt hắn mang đi. Bỗng Phsa-dek thấy được, tri hô lên. Đám thuộc hạ ùa tới giải vây cho chủ. Chàng trai quá đỗi sững sờ, ngạc nhiên khi thấy nàng ở đây. Lợi dụng giây phút đó, đám thuộc hạ bắt được chàng và tra tấn rất dã man. Nghĩ rằng tại mình nên người yêu cũng là ân nhân mới gặp nạn, nàng đau đớn ngất lịm đi.
Khi được tin chàng trai bị cột chặt vào bè, rồi phóng hỏa đốt thả trôi sông, nàng Phsa-dek vùng dậy chạy theo nhảy xuống bè để cùng chết chung với chàng, nhưng bị thuộc hạ của chúa đất phóng theo bắt lại.
Phsa-dek bỏ nhà đi tu. Vài năm sau, tên chúa đất họ Thạch qua đời. Nàng trở thành người thừa kế một sản nghiệp đồ sộ của dòng họ Thạch. Một phần tài sản được nàng chia cho dân nghèo, phần còn lại dùng vào việc đắp đường, bồi lộ, dựng cầu và xây một nhà lồng chợ để cho người mua, kẻ bán có chỗ che nắng trú mưa.
Ngôi chợ đó được gọi là chợ Phsa-dek, lâu ngày nói trại thành Sa Đéc đến ngày nay. Còn nàng thì được nhân dân kính cẩn tôn lên hàng nữ thần. Tương truyền nàng rất linh thiêng, nhân dân cầu xin điều gì cũng đều được linh ứng.
Đền thờ thủy thần Sa Đéc trên núi Cô Tô với chuyện này không biết có liên hệ gì với nhau không?, song cả hai đều liên quan đến tên gọi Sa Đéc.
Trong Gia Định thành thông chí (tập hạ) của Trịnh Hoài Đức mô tả chợ Sa Đéc như sau:
Chợ ở đông huyện Vĩnh An. Phố chợ dọc theo bờ sông, nhà hai bên liên tiếp 5 dặm, dưới sông có những nhà bè, gác làm phòng ốc, đậu sát nhau, hoặc bán hàng lụa, khí dụng ở Nam Bắc chở đến, hoặc bán dầu rái, than, mây tre… Trên bờ và dưới sông hàng hóa tốt đẹp, trông khá vui vẻ, thật là nơi thắng địa phồn hoa vậy”.
Như vậy, Sa Đéc quả thật là một chợ nổi, nổi tiếng trên sông nước. Phải chăng chính vì vậy mà người Khmer gọi là Phsa ădek (có nghĩa là chợ nổi) và người Việt phát âm thành Sa Đéc?

(Nguyễn Hữu Hiếu)

https://kenh14cdn.com/k:thumb_w/600/BTbXlm8EkGSICUZ2NYiccccccccccc/Image/2014/01/IMG_7856-07731/dep-tuyet-voi-lang-hoa-sa-dec-noi-tieng-mien-tay-nam-bo.jpg

Phố Hoa bên dòng Sa Giang

Psardek, duyên dáng hương xuân
 Dương Thủy
Thị xã nổi tiếng này đã gây ấn tượng mạnh với tôi bắt nguồn từ tên của một nghệ sĩ cải lương nổi danh một thời là “bà Năm Sa Đéc” với vai diễn bà mẹ chồng ác nghiệt trong vở “Lá sầu riêng” từng lấy bao nước mắt của khán giả. Vùng đất này còn nổi tiếng với câu chuyện tình lãng mạn của một nữ văn sĩ người Pháp vào thời Đông Dương, và là quê hương của món hủ tiếu ngon nức tiếng cùng làng hoa Tân Quy Đông duyên dáng bên sông.
Huyền sử Sa Đéc
Từ Sài Gòn, sau 2 giờ chạy xe tới Cai Lậy, qua Cái Bè đến Cổ Cò rồi vượt cầu Mỹ Thuận, xuống chân cầu có hai nhánh rẽ: quẹo trái là vào đất Vĩnh Long để đi tiếp đến Cần Thơ - Sóc Trăng - Bạc Liêu và Cà Mau là điểm dừng cuối cùng của đất nước; quẹo về tay mặt để vào Sa Đéc. Tuấn Dương - anh chàng “thổ địa” của đoàn giới thiệu sơ về đất này: Xưa kia, đây là xứ Chân Lạp và miệt này có tên là Psardek (có nghĩa là Sắt). Tương truyền, ngày xưa có nàng Psardek, con gái chúa đất họ Thạc, đã phải lòng một chàng trai nghèo. Phản đối mối tình này, cha nàng đã sai người trói chàng trai lại và thả trôi sông. Nàng Psardek buồn tình bỏ đi tu. Về sau, khi cha mất, nàng đã dùng tài sản của gia đình làm từ thiện, tu bổ đường xá, xây cất chợ búa giúp đỡ người dân quanh vùng có một điểm tụ họp buôn bán trao đổi hàng hóa ổn định. Cảm ơn công đức của nàng từ đó người ta gọi chợ và vùng này là Psardek. Về sau, nhà Nguyễn cai trị đã đặt tên cho nơi đây là phủ lị phủ Kiến Đăng, tỉnh Định Tường. Tên Psardek khó phát âm với người Việt, nên lâu ngày từ Psardek người ta đọc trại thành Sa Đéc như hiện nay.
Đến Sa Đéc ăn hủ tiếu và xem nhà cổ
nha-co-huynh-thuy-le
Trong bữa trưa của chúng tôi tại thị xã, Tuấn Dương giới thiệu với cả đoàn món hủ tiếu Sa Đéc khá nổi danh, vừa hướng dẫn mọi người phân biệt sự khác nhau giữa hủ tiếu Nam Vang, Mỹ Tho và Sa Đéc. So với mọi vùng làm ra sợi hủ tiếu thì Sa Đéc được xem là nơi chế biến “số dách”, vì vậy người sành ăn miền Tây đều “chuộng” hủ tiếu Sa Đéc do sợi được làm từ loại gạo dẻo thơm ngon, lúc ngâm phải “vút gạo“ thật kỹ nên khi ra lò và khi ăn thì hủ tiếu có đặc điểm mềm, dai và không bị chua. Về cách nấu, Sa Đéc có hai loại hủ tiếu tiêu biểu là: món hủ tiếu thịt heo và hủ tiếu bò viên. Hủ tiếu bò viên chỉ có một món bò viên nên nước dùng phải có xương bò cùng xương heo ninh chung thì mới đậm vị, riêng về hủ tiếu heo thì trong nồi nước dùng cơ bản phải có thật nhiều xương heo được ướp theo một bí quyết riêng rồi mới được ninh nhừ cho ngọt nước. Người Sa Đéc khoái ăn theo kiểu : “một tiếu một xí quách”. Du lịch vùng này, bạn chỉ cần chỉ cần gọi như vậy là một lát sau cô bán hàng bưng ra một tô hủ tiếu đầy đủ thịt băm, tim gan còn một tô kia đầy những xương ống heo ninh nhừ. Lúc này, khách chỉ việc ăn hủ tiếu rồi nhẩn nha những cục xí quách mềm rục.
Sau bữa cơm ngon lành, chúng tôi đến ngôi nhà cổ còn khá nguyên vẹn của đại điền chủ Huỳnh Thủy Lê – người từng vang danh trong tiểu thuyết nổi tiếng ”Người Tình” của nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras. Ngôi nhà này nằm ngó ngay ra mặt sông Sa Đéc hiền hòa với phong cách kiến trúc Đông – Tây hội ngộ khá hoàn mỹ. Có thể nói, kiến trúc sư đã khéo léo phối hợp chất Nam bộ trong tổng thể cùng nét bài trí đậm hơi hướng Trung Hoa, riêng các vật trưng bày được chạm khắc vô cùng tinh xảo. Cuối năm 2010, ngôi nhà này vừa kỷ niệm tròn 115 năm tuổi. Hồi đầu thế kỷ XX, năm 1917 nhà đã được trùng tu và xây lại với nguyên liệu là vôi vữa cùng bột ô dước, riêng nếp nhà cũ nguyên bản làm bằng gỗ đã bị đập bỏ hoàn toàn. Tuấn Dương cho biết: năm 1972, ngôi nhà này bị bỏ hoang vì chủ nhân đã đưa cả gia đình ra nước ngoài sinh sống; sau 1975 một đơn vị quân đội đã tiếp nhận và đặt trụ sở trong thời gian khá dài. Đầu năm 2007 ngôi nhà này mới chính thức được chuyển thành địa chỉ du lịch.
Theo thống kê, Sa Đéc tồn tại 79 căn nhà cổ, trong đó có 17 ngôi nhà được xây cất vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, đa số đều mang dấu ấn của kiến trúc Pháp. Hiện nay, trừ ngôi nhà Huỳnh Thuỷ Lê được chăm chút cẩn thận, những ngôi nhà khác đang xuống cấp trầm trọng, cần phải có một kế hoạch duy tu bảo tồn kịp thời. Đến Sa Đéc, ngoài nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, du khách Pháp đều không quên thăm trường tiểu học Trưng Vương (nơi mẹ của nữ văn sĩ Marguerite Duras từng là hiệu trưởng), trải qua cả thế kỷ nhưng ngôi trường vẫn còn khá nguyên vẹn với nét kiến trúc đậm chất Pháp cùng dáng vẻ bán hiện đại. Tôi đã đọc tác phẩm nổi tiếng này và cũng đã thưởng thức bộ phim qua diễn xuất tuyệt vời của tài tử Lương Gia Huy cùng Jane March. Nhưng khi viếng nhà cổ, trường xưa, một cảm xúc chợt dâng đầy trong lòng lúc nhìn ngắm các vật dụng gợi nhớ quá khứ, tất cả làm tôi thấy dường như hồn xưa đang chầm chậm quay về.
Du ngoạn làng hoa bên sông
  Rời nhà cổ, chúng tôi chạy xe tiếp tục đến thăm làng hoa Tân Quy Đông cách đó chừng 10km… Bên kia sông là một chuỗi các lò gạch tỏa từng cụm ngọn khói đen nghi ngút rồi nhạt dần trong bầu trời xanh. Điểm độc đáo của làng hoa này là nằm ngay sát bên đường lộ, rất thuận tiện trong việc buôn bán hay tham quan. Vào mỗi dịp tết, đây là nơi thu hút rất đông du khách. Thăm làng hoa, tôi như lạc vào không gian mang màu sắc của hoa cảnh, thấp thoáng vang vọng tiếng trả giá, lời chào hỏi, tiếng nhạc cải lương trên chiếc đài be bé mà một người trồng hoa đem theo ra tận các liếp hoa để giải cơn “nghiền”.
Dưới sông, các chuyến ghe tấp nập người vác kiểng hoa xếp đầy trong khoang theo từng loại có hàng có lối. Lẩn mẩn tôi đếm: Hồng Túc Cầu, Mãn đình hồng, Cúc đại đóa, Cúc mâm xôi, Cúc vàng cùng hoa Mai 5 cánh cho đến Mai 48 cánh … Riêng hoa hồng có hơn 20 loại (sau này được biết tại Sa Đéc có vườn hồng trồng tới hơn 50 giống). Trên một thuyền khác tôi thấy chuyên các loại ớt kiểng với hình dáng “là lạ” từ tròn, dài, bát giác với đủ màu sắc từ trắng, xanh, tím đỏ hồng vàng nhìn thật thích mắt. Xa xa những chiếc ghe bầu có tải trọng lớn lại chuyên các chậu tắc kiểng, thiên tuế mướt xanh được uốn nắn rất công phu.

Qua một đêm ngủ thật ngon tại một khách sạn nhỏ bên dòng sông Sa Đéc hiền hòa êm ả, chúng tôi vội chạy ra làng hoa để tranh thủ chụp hình những nụ hoa còn đọng giọt sương mai trong nắng sớm. Tạm biệt Sa Đéc, tôi vẫy tay chào những nghệ nhân trồng hoa mới gặp mà tưởng như rất thân quen qua lời chào hỏi dân dã và nụ cười hiền hòa, thân thiện.  Mọi người đều mong Xuân đến sẽ mang cho ta nhiều hi vọng về một tương lai tốt đẹp, và chính những nụ cười chân chất ấy làm ta ấm lòng và thêm yêu mảnh đất dịu dàng với cái tên mộc mạc Sa Đéc.
Sưu Tầm

Về miền Tây, săn ảnh đẹp lò gạch Sa Đéc

Miền Tây Nam bộ không xa lạ đối với những ai có niềm đam mê du lịch sông nước. Song vẫn còn có tour "độc" gây ngạc nhiên và hứng khởi không ít cho những tay săn ảnh đẹp và thích du lịch bằng "ngựa sắt".
Hãy thử một lần rong ruổi xe máy về lò gạch Sa Đéc để săn những bức ảnh độc đáo của một miền sông nước thanh bình.
Hình ảnh có liên quan

Tour hiếm săn ảnh nghệ thuật
Du ký miền Tây săn ảnh nghệ thuật là một loại tour hiếm. Tìm kiếm trên Google, có đến 805.000 kết quả với từ khóa "tour chụp ảnh miền Tây" chỉ trong vòng 0,21 giây, nhưng không có kết quả nào về tour du lịch chụp hình nghệ thuật ở miền Tây sông nước. Đặc biệt là tour về Sa Đéc (tỉnh Đồng Tháp) sáng tác ảnh nghệ thuật ở lò gạch ven sông lại càng hiếm. Và có lẽ chỉ có dân phượt với niềm đam mê săn ảnh đẹp và xê dịch bằng xe gắn máy mới đủ sức đeo bám photo tour ròng rã ngồi trên xe máy dưới thời tiết nắng gắt mưa dầm luân phiên trên nẻo đường miền Tây.
Khởi hành từ TP.HCM, buổi chiều muộn đoàn nhiếp ảnh gia cưỡi xe máy đã dừng chân ở thị xã Sa Đéc. Để rồi sau một đêm thao thức mơ về ngôi lò gạch đỏ mơ màng ven sông, những tay máy thiện nghệ trong đoàn phượt đã thỏa ước nguyện săn những bức ảnh "độc" nhất. Buổi sáng rực nắng và mây bồng bềnh, gợi niềm hứng khởi cho đoàn nhiếp ảnh gia hăng hái qua sông bằng một chuyến phà nhỏ, sang lò gạch Đức Thành bên kia sông. Một ngày nắng đẹp hứa hẹn cho hàng ngàn cú bấm máy đẹp lung linh.
Trên chuyến phà gỗ nổ máy qua sông, nhiều tay máy trong đoàn không bỏ lỡ cơ hội sáng tác ảnh đẹp từ góc nhìn trên phà. Một vùng trời nước mênh mang mở ra những nẻo đường xuôi ngược sông nước miền Tây. Mái chèo của bà mẹ quê khua rộn ràng sóng nước. Những chuyến sà lan hối hả chở cát trên sông. Và những con thuyền đang rộn ràng ăn những mẻ gạch đỏ tươi mới ra lò. Sát bên mé sông, lô xô những vòm lò gạch in lên nền trời mây trắng từng nét cong mềm mại duyên dáng. Những nét duyên ngầm của miền sông nước đã được thu gọn trong những cú bấm máy thiện nghệ của đoàn khách qua sông
Theo người dân địa phương đi phà qua sông vào lò gạch Đức Thành, thị xã Sa Đéc
Tranh thủ sáng tác những bức ảnh về miền Tây sông nước trên chuyến phà qua sông vào lò gạch -

Cảnh nhộn nhịp trên bến dưới thuyền bên ngoài lò gạch Đức Thành, thị xã Sa Đéc
Săn tìm ảnh "độc" nơi lò gạch
Đây rồi, lối vào lò gạch nho nhỏ với bờ tường gạch đỏ nhuốm màu rêu phong rực lên dưới ánh nắng vàng tươi. Một bà mẹ quê đội nón lá đi ngang ngõ nhỏ. Một giàn mướp vàng tươi nở trên nền gạch cam rực rỡ. Cô gái thị thành diện áo hoa dạo bước ngõ vào lò gạch. Chỉ đơn sơ thế thôi cũng đủ gợi cảm hứng rạo rực cho các tay máy đốt cháy bao nhiêu thẻ nhớ máy ảnh.
Cái nóng như thiêu trong lò gạch cũng không ngăn được các tay máy lăn xả vào gần những chiếc lò nung gạch đang cháy phừng phừng vỏ trấu, những chồng gạch ống, gạch lát sàn còn đang ướt rượt xếp cao nghệu để tìm góc sáng tác ảnh "độc". Ngắm nhìn mải mê qua ống kính máy ảnh những người thợ lò gạch cần mẫn như những con ong cái kiến, xếp gạch còn ướt vào máy xén để định hình khuôn gạch, vài cô gái trẻ hăm hở xông vào "học việc" thợ gạch.
Được ngày nắng to, công nhân lũ lượt xếp gạch ướt ra sân phơi cho được nắng. Sau lưng những người công nhân đang nhịp nhàng trải gạch trên sân, từng dãy ụ lò gạch đỏ sẫm in lên nền trời xanh mây trắng, khiến cả lò gạch trông như một tổ ong lớn với hàng trăm ong thợ làm việc hăng say. Và rồi những tiếng bấm máy lạch xạch lại vang lên không ngớt.
Một tay máy nữ trong đoàn sáng tác ảnh đang sáng tác tại ngõ nhỏ vào lò gạch Sa Đéc với nhịp sống đời thường trong dáng hình bà mẹ quê mộc mạc nón lá
Cảnh phơi gạch trong ngày đẹp nắng ở lò gạch Sa Đéc gợi cảm hứng mạnh mẽ cho các tay máy phượt săn ảnh đẹp
Cô gái trẻ trong đoàn (đội mũ lưỡi trai) vừa săn ảnh nghệ thuật, vừa lăn xả vào "học việc" làm gạch với công nhân lò gạch Sa Đéc -
Ngoài những lò gạch đang đỏ lửa nung gạch, có cả những lò gạch trình diễn công đoạn nung gạch cho khách tham quan tạo dáng chụp ảnh. Luồng ánh sáng rọi vào lòng lò gạch qua ống khói trên nóc vòm lò đã tạo nên nguồn sáng cực "độc" trên mặt người mẫu. Màu tường kết bằng gạch nung trong lòng lò gạch đỏ nồng nàn sau bao đợt lửa nung trở thành phông nền độc đáo không đâu có. Và cả cửa vòm mộc mạc lối vào mỗi cửa lò gạch mang đậm dấu ấn khói lửa nung và màu thời gian bàng bạc, tạo nên dấu ấn nghệ thuật rất riêng cho các bức ảnh thêm nét độc đáo.
Tất cả những nét đẹp lạ của lò nung gạch khiến các tay săn ảnh mê mải bấm máy rào rào. Người thì leo lên đống gạch nung xếp cao ngất, người lại nằm ngửa dưới đất bấm chếch máy lên cao. Mọi góc máy sáng tạo đều được tận dụng tối đa trong lò gạch để cạnh tranh nhau góc máy lạ nhất.
Trong vài giờ ngắn ngủi săn ảnh đẹp ở lò gạch Sa Đéc, đoàn săn ảnh đẹp đến từ phố thị Sài Gòn đã vỡ ra thêm nhiều điều về đời thợ lò gạch, về cả cách sáng tác ảnh nghệ thuật với hoạt động sản xuất gạch, cách làm chủ ánh sáng trong lò gạch để có ảnh. Để rồi trên đường về lại Sài Gòn, đã nghe lòng da diết nhung nhớ sắc đỏ thắm lò gạch ven sông thị xã Sa Đéc…
Bất kể cái nóng thiêu đốt trong lò gạch, các tay máy xông xáo săn ảnh đẹp từ hoạt động sản xuất của công nhân lò gạch
Lò gạch trình diễn quy trình sản xuất gạch cho khách du lịch tham quan và chụp ảnh
wnrVttyO.jpg
Công nhân đang dỡ gạch vừa chín tới trong lò nung ở lò gạch Đức Thành, thị xã Sa Đéc 
Bài, ảnh: KHÁNH NGỌC 
 
Gánh Sadec Amis của Thầy Thân

Sự ra đời của Sadec Amis
Ông Đinh Công Thanh (78 tuổi), Hội Khoa học lịch sử Sa Đéc (Đồng Tháp), đang dành tâm lực viết các gương nổi tiếng đờn ca tài tử của Sa Đéc xưa cho biết André Thận tức Nguyễn Văn Thận (có sách ghi là Lê Văn Thận) là một công tử xuất thân từ gia đình giàu có ở Sa Đéc (nay là TP.Sa Đéc, Đồng Tháp). Nhưng theo ông Thanh, vì tư liệu về cuộc đời thầy Thận tản mát, con cháu thầy Thận là ai cũng không rõ, còn lớp người biết nhiều về thầy Thận thì cũng nhắm mắt xuôi tay nên để chứng minh lời khẩu truyền thầy Thận là “phá gia chi tử” dẫn đến đói nghèo đúng hay sai còn tốn nhiều công sức.
Nguyễn Văn Thận lớn lên trong gia đình giàu có tại Sa Đéc, thầy tốt nghiệp trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, từng đi làm “cò Tàu” cho hãng tàu Tây Messageries Fluviales chạy tuyến Hậu Giang - Nam Vang. Vì yêu thích đờn ca tài tử nên thầy đã hợp tác cùng ban Bảy Đồng và đích thân đứng ra xin phép tắc để hợp thức hóa mọi hoạt động văn nghệ. Từ đây, nhóm đờn ca tài tử hoạt động có giấy phép hẳn hoi với cái tên mới Sadec Amis mà sau đó có người ghép lại đọc sai thành Sadecamis.
Năm 1916 - 1917, thầy Thận xem đoàn xiếc của Mỹ sang Sài Gòn và lưu diễn tại các tỉnh miền Nam đã nảy ra ý hay đem áp dụng cho Sadec Amis. Thầy Thận đã đệm màn phụ diễn như xiếc chen vào màn ca ra bộ nên gánh thầy luôn lôi kéo khán giả. Sau đó thầy trương bảng: Gánh hát thầy Thận Cirque jeune Annam - Ca ra bộ - Sadec Amis.
Trong gánh thầy Thận có nhiều “kỳ nhân” như “người rắn không có xương sống” xếp được hai chân chui được vào ống cống đường kính chừng 5 tấc rồi lộn ra như con rắn; có lực sĩ nằm để xe hơi cán ngang bụng; có nữ nghệ sĩ Mai Hảo với tài đi dây, nhào lộn trên đu chẳng kém các nghệ sĩ xiếc của Tây; lại có nghệ sĩ Tám Danh giỏi võ với biệt tài phóng dao, đánh kiếm... Thời kỳ đó gánh thầy Thận lên Sài Gòn che rạp trước chợ Bến Thành được khán giả chen nhau mua vé. 
Dấu ấn 2 chữ “cải lương”
Nhắc về Sa Đéc, ông Thanh tự hào cho biết: “Gánh thầy Thận có công đầu trong buổi ban mai hình thành sân khấu cải lương. Còn chữ cải lương cũng xuất phát tại Sa Đéc trên gánh Tân Thinh với câu chữ treo trên bảng hiệu: Cải cách hát ca theo tiến bộ/Lương truyền tuồng tích sánh văn minh. Chủ gánh là ông Trương Văn Thông, là người Sa Đéc, dựng gánh hát từ năm 1922. Tại Sa Đéc còn ngôi biệt thự xây dựng theo lối cổ của Pháp mà người địa phương quen gọi là biệt thự “Tân Thinh”. Đây là tài sản của gánh Tân Thinh xưa”.
Thầy Thận có ý định bỏ gánh hát để dựng lên một sân khấu cải lương hoàn toàn. Thế nhưng, lực bất tòng tâm nên thầy đã sang gánh hát lại cho bạn là thầy Năm Tú ở Mỹ Tho. Phần đời sau này của thầy Thận ra sao, sống chết sang hèn thế nào hiếm thấy đề cập đến.
Ông Thanh nói thêm, tuy là tài tử nhưng chắc chắn thầy Thận phải có uy tín mới “dời” được hai nhân sĩ từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục là cụ Đặng Thúc Liêng và Trương Duy Toản giúp đỡ. Cụ Toản vì tham gia cứu quốc nên bị Pháp câu lưu ở Cần Thơ theo dõi. Cụ Toản đã lập ra ban nhạc tài tử Ái Nghĩa để ca các bài đơn ca do chính cụ soạn hát chơi trong các thôn xóm. Nghe danh, nhóm Sadec Amis đã mời cụ tới Sa Đéc nhập gánh và cụ Toản nhận lời, cụ đã soạn các bài đơn ca thành liên ca như Bùi Kiệm thi rớt trở về, Kim Kiều hạnh ngộ... phổ theo điệu Tứ đại oán. Gánh thầy Thận rất nổi tiếng, lưu diễn ở các nơi và rất ăn khách ở Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho mà trong đó Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều ăn khách nhất.
Gánh Sadec Amis được vang danh nhờ những bài như Tứ đại oán gồm 5 lớp, trích đoạn lớp nhứt do cụ Toản soạn như sau:Khi từ khi Kiệm thi rớt trở về/Bùi Ông mắng nhiếc nhún trề/Trách quở mắng chàng ham bề vui chơi/Kiệm thưa tài bất thắng thời/Có lẽ nào con không lo bề công danh/Tuổi con hãy còn xuân xanh... Lúc ấy do biểu diễn cách tân nên đông khán giả lắm. Với phương châm người ta nghe đờn ca sướng tai chưa đủ mà phải làm sao coi cho khoái mắt nữa mới hay. Nhóm thầy Thận với chỉ dẫn của cụ Toản đã mạnh dạn tách rời ca sĩ ra khỏi dàn đờn để bắt họ đứng lên, đối diện với nhau và vừa ca vừa ra bộ, làm màu, theo sát tình cảm của từng câu, đoạn ca gọi là ca ra bộ. Sau đó ca ra bộ lớn dần với những bước nghệ thuật kế tiếp là hát chập là hình thức liên ca, ra điệu bộ, được lồng trong các cốt truyện có tình tiết nội dung. Buổi bình minh của sân khấu cải lương khởi điểm từ đây. Trong bài viết Hát bội hay hát bộ học giả Vương Hồng Sển cũng đề cập: “Trở lại tìm hiểu hậu tổ cải - lương là ai, xin cho tôi nhấn mạnh và ghi công cho ông André Thận và ông Mạnh Tự Trương Duy Toản”.
Thanh Dũng 















         









Nhận xét