Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

Nhạc - Thơ - Văn Hoa Huệ trắng

Hình ảnh có liên quan

Hoa Huệ

  Khi huệ nở

Hình ảnh có liên quan

Nhớ mẹ

Hoa huệ trắng con dâng lên từ mẫu,
Giữa mưa chiều con lặng lẽ cô đơn...
Trắng tinh khôi hương thắm giọt lệ buồn !
Con nhớ mẹ biết bao giờ lại gặp ?!
NM
Kết quả hình ảnh cho truyện ngắn về hoa huệ trắng
HOA HUỆ TRẮNG 1
  Buổi trưa , tôi thường ra coi tiệm cho vợ về ăn cơm. Vợ chồng tôi có một tiệm nhỏ bán hoa tươi ở chợ. Gọi là tiệm cho sang, thật ra đó chỉ là một cái sạp nhỏ mấy mét vuông nằm lọt thỏm giữa khu chợ suốt ngày đông đúc và lắm tiếng ồn. Được cái, sạp nằm ngay ngã tư con lộ chính nên khá đông khách. Và, với một thằng viết văn làng nhàng như tôi, nhờ vậy cũng sống tạm qua ngày cùng người vợ giỏi giắn và sạp bán hoa tươi đắt khách quanh năm.
Quả chính cái sạp nầy nuôi cả nhà tôi nhưng điều tôi thích hơn vẫn là hàng ngày, cứ mỗi buổi trưa ra sạp lại được nhìn ngắm thỏa thích những đóa hoa tươi thắm, đủ màu sắc khoe rực rỡ trên bước chân người qua lại. Một gian nhà đầy hoa, có loại tôi biết tên, loại không biết tên cứ như làm lòng tôi dịu hẳn lại trong cơn kiếm sống tất bật hàng ngày, trong những trang viết đầy gai góc. Không gì làm lòng ta thanh thoát, dịu êm và lắng đọng hơn bằng hoa, hình như R. Tagore bảo vậy. Tôi tin ông thi hào Ấn Độ nầy khi nói về hoa như là một thứ tôn giáo trong đời sống. Nó cũng làm người ta mê mải, đam mê, đắm đuối tôn thờ.. Chẳng phải các loài hoa đều được đặt những nơi cao quý nhất đó sao? Chẳng phải những tình yêu thuần khiết nhất đều bắt đầu từ biểu tượng một loài hoa. Và các đôi trai gái yêu nhau. Có lời tỏ tình nào êm dịu, tuyệt vời hơn khi tặng nhau một đóa hồng hay hoa “ Xin đừng quên tôi” chớm nở
… Nhưng thôi, tôi chỉ mơ mộng tí chút khi ngồi chễm chệ trên chiếc ghế thật cao, đảo mắt nhìn quanh xem có ai đi ngang qua mà mời mọc : “ Hoa tươi đây, hoa Đà Lạt mới đem về đây… Mời anh chị ghé mua… Bảo đảm giá cả và chất lượng…” Vợ tôi bảo tôi mời khách như vậy, giọng nói phải nhẹ nhàng, từ tốn người ta mới chịu vào. Cái thằng tôi đôi khi cũng được việc. Thần sắc tôi trông tội nghiệp thế nào không biết nhưng cứ hễ ai ghé vào sạp, nghe tôi chào mời, nỉ non một hồi, không ít thì nhiều, thế nào họ cũng mua hoa giúp tôi.
Khách hàng quen thuộc nhất của tôi lại là một thằng bé. Vâng, một thằng bé đâu chừng mười bốn, mười lăm tuổi dáng lêu khêu, gương mặt hiền lành, dễ thương, hầu như trưa nào cũng đến chỗ tôi mua hoa. Nó mua không nhiều, mỗi lần một bó nhỏ giá chỉ có vài ngàn nhưng lại lựa rất kỹ, mà chỉ đặc biệt mua hoa huệ trắng. Lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên. Hỏi nó mua hoa làm gì, nó chỉ lắc lắc đầu không nói không rằng một câu. Riết rồi tôi thây kệ! Mắc gì đến tôi. Nó có tiền nó mua, tôi có hoa tôi bán. Cứ ba ngàn một bó sáu chiếc mà đếm tới. Ngữ nầy chắc mang tặng bồ, tặng bịch gì đây. Ôi, cái thằng con nít ranh hỉ mũi còn chưa sạch, mới chừng ấy tuổi chưa nứt mắt đã tí tởn làm người lớn, tôi nhủ thầm trong bụng như vậy.
Trả tiền tôi lúc nào cũng là những tờ giấy bạc nhàu nát như bộ đồ thằng bé đang mặc. Nó đến và đi lặng lẽ, đôi mắt đen mở to lấp lánh niềm vui và bước đi như chạy lẫn vào trong khu phố đông người. Tôi cứ băn khoăn tự hỏi không biết nó làm gì, mua hoa tặng ai… Thi thoảng, có vài cánh hoa đẹp còn dôi ra trong chậu, tôi nhã ý tặng nhưng nó nhất định không lấy. Buổi trưa, dù trời nắng hay mưa, cứ như đến giờ hẹn, nó lại đến tôi mua hoa huệ trắng với những đồng tiền nhàu nát rồi bươn bả bước đi không nói một lời nào…
***
… Bẳng đi một thời gian khá lâu, tôi không gặp thằng bé. Vợ tôi lúc nầy bán hoa luôn vào buổi trưa nên tôi không phải trông chừng sạp. Tôi có hỏi về thằng bé mua hoa huệ trắng thì cô ấy lắc đầu quầy quậy:
- Thằng bé nào thế, sao em không biết? Mà trăm người bán vạn người mua, hơi đâu để ý. Nó mua hoa làm gì? Hay là nó lại gạ ông rồi ăn cắp hoa đấy! Trẻ con bây giờ táo tợn lắm…
Tôi không biết nói gì thêm và quên bẵng chuyện mua hoa huệ trắng. Mãi cho đến một hôm, tôi nhớ là chiều thứ bảy, sẵn mới lãnh tiền nhuận bút, tôi hào phóng dẫn vợ con đi ăn tiệm. Quán đông nghịt người. Tôi đang cắm cúi ăn thì một giọng trẻ con rụt rè phát ra từ sau lưng:
- Cháu… Cháu mời chú đánh giày…
- Không! Tôi lạnh lùng đáp.
- Chú làm ơn! Từ sáng giờ cháu chưa đánh được đôi giày nào! Tiếng thằng bé khẩn khoản.
- Đã bảo là không mà, tôi gắt.
Tôi bực mình ngoái nhìn lại và chợt nhận ra thằng bé. Cặp mắt lóng lánh thơ ngây và gương mặt dễ thương kia thì không lẫn vào đâu được nhưng nụ cười hạnh phúc mỗi lần mua hoa của tôi thì biến đâu mất. Nhường lại là gương mặt buồn thiu như chực khóc
- Cháu có phải là thằng bé vẫn thường mua hoa của chú! Tôi hấp tấp hỏi mà lòng xốn xang.
- Dạ.. Là cháu. Thằng bé lí nhí.
- Thì ra… cháu làm nghề đánh giày! Mà sao lâu lắm chú không thấy cháu đến mua hoa! Tôi hỏi.
- Dạ…Thằng bé ngập ngừng hồi lâu mới trả lời. Dạo nầy cháu đánh giày ế quá chú ạ! Có khi cơm còn không đủ ăn!
Miếng đồ ăn trên miệng tôi bỗng đắng ngắt. Tôi nghẹn như không nuốt nổi, thương cảm nhìn thằng bé gầy rộp đi so với lần đầu tôi gặp. Tôi nhìn kỹ nó. Vẫn bộ đồ cũ nát, nhiều chỗ rách hơn và nước da nhợt nhạt chắc vì thiếu ăn thiếu ngủ. Nhìn các con tôi đang nô đùa, vui vẻ tíu tít trò chuyện quanh bàn ăn thừa mứa, bất giác tôi thấy chạnh lòng.
- Thế ba mẹ cháu đâu? Tôi hỏi.
Như chạm vào nỗi đau nào đó,thằng bé không trả lời, cặp môi mím chặt lại. Mắt nó ngân ngấn nước. và chẳng nói thêm một câu nào, thằng bé lửng thửng ôm thùng đánh giày bước đi trước khi tôi kịp kêu nó lại. Buổi ăn tiệm của tôi xem như đã hỏng. Trên đường về, tôi cứ ân hận là không kịp hỏi chỗ ở của nó để may ra, tôi còn gặp lại nó, ít ra cũng giúp được nó tí gì. Nhưng tôi chắc rằng, điều ấy thằng bé cũng chẳng nói ra đâu…
***
Lúc nầy, cửa hàng bán hoa của vợ tôi ế ẩm. Tôi bỏ ngang công việc viết lách buổi trưa ra trông chừng cửa hàng. Với lại, tôi cũng có ý đợi thằng bé với nỗi cồn cào khôn tả. Bao nhiêu câu hỏi trong đầu của tôi về thằng bé chưa giải đáp được. Nó con nhà ai, ở đâu? Sao nó lại cứ để dành mua hoa với đồng tiền đánh giày ít ỏi? Tôi chỉ biết chắc một điều tiền nó dành dụm mua hoa là những đồng bạc lẻ nhàu nát. Ở đâu ra nếu không phải là tiền của nó chắt chiu từ những lần đánh giày hiếm hoi trong ngày? Và câu hỏi lởn vởn nhiều nhất trong đầu tôi là nó mua hoa để làm gì trong khi nó phải nhịn ăn, nhịn mặc… Nó xuất hiện trước tôi như những điều bí ẩn mà cho dù có cố cách nào, tôi cũng không giải đáp nổi…
Ơn trời, trưa nay tôi lại gặp nó. Cũng cái dáng lêu khêu, nước da đen sạm và đôi mắt long lanh và trên người là bộ đồ rách rưới. Trên tay cầm chiếc hộp đánh giày, nó xăm xăm tiến về cửa hàng, moi ra những đồng tiền cũ nát và chìa ra cho tôi:
- Chú bán cho cháu bó hoa huệ trắng như mọi lần. Nó nói, mắt ngời hạnh phúc.
Lần nầy thì tôi không hỏi nó nữa. Tôi đã có cách của mình để khám phá bí mật của thằng bé. Lựa hoa cho nó xong, tôi lặng lẽ kín đáo nhìn nó. Đôi mắt nó như nở bừng lên với niềm vui vô hạn. Sau tiếng cám ơn ngắn ngủi, thằng bé tung tăng bước lẫn vào giữa đám đông với bó hoa trên tay đung đưa trước mặt.
Tôi nhanh nhẹn rảo bước theo thằng bé. Chút nữa thì tôi mất hút nó trong đám đông khu chợ. Nó bước đi như chạy mà không hề hay rằng tôi đang hấp tấp theo sau. Một ngã quặt, rồi một ngã tư, tiếp đến là đường ra ngoại ô. Nó ra đây làm gì nhỉ? Trời đang chuyển cơn mưa lớn… Mặc! Tôi cứ đi theo nó mà trong lòng ngổn ngang bao nhiêu là câu hỏi…
Cái nghĩa trang thành phố hiện ra trước mắt tôi. Thằng bé vẫn xăm xăm tiến bước như đã quá quen các đường ngang ngõ tắt quanh các ngôi mộ. Mưa đã bắt đầu rơi. Sau một hồi quanh quất, nó đứng trước một ngôi mộ thấp lè tè cỏ mới lên xanh. Tôi đứng nấp sau chiếc mộ lớn, tò mò xem nó sẽ làm gì.
Nó đứng đấy, trước ngôi mộ không bia kia, nghiêm trang, thành kính, mắt ngời hạnh phúc, miệng mấp máy như khấn nguyện điều gì. ..Mưa rơi mỗi lúc một nặng hạt. Nó cứ đứng như thế, co ro trong chiếc áo cũ mỏng manh, rách nát với bó hoa huệ trắng, run rẩy cầm trên bàn tay gầy guộc đặt bó hoa tươi trước ngôi mộ thấp bé, cỏ đã ướt đẫm nước mưa.
Không thể chờ lâu hơn, tôi bước gần đến nó. Thằng bé như không hề biết đến sự hiện diện của tôi, hai chân quỳ trước mộ và tôi nghe nó nói tiếng được, tiếng mất giữa màn mưa :
- Con lại đến thăm mẹ đây, mẹ ơi! Con mang cho mẹ những đóa huệ trắng mà mẹ rất thích khi còn sống! Xin mẹ phù hộ cho con trong cuộc đời nầy… Con nhớ mẹ lắm…. Mẹ ơi…
Tôi lặng người nhìn thằng bé. Nó vụt lớn lên trong tôi, cao sang, thanh khiết như những bông huệ trắng khẽ rung lên, tuyệt đẹp, tinh tuyền.
Mưa xối xả rơi trong nghĩa trang mà lòng tôi cứ ấm áp đến lạ kỳ. Những đóa huệ trắng như sáng rực lên giữa màn mưa đen kịt ./.
Nguyễn Minh Phúc
Kết quả hình ảnh cho hoa huệ trắng


 Về thăm xứ huệ Lai Vung

HOA HUỆ TRẮNG 2

Hôm nay tôi đi chợ Dandenong mua hoa Huệ về chưng, đây là một thói quen không hiểu vì sao, Mỗi khi thấy Huệ là nhất định mua dù mắc và chẳng có màu sắc nhiều như những loài hoa khác. Ở nhà tôi có cả một vườn Lan lớn nhưng bây giờ tàn nhiều lắm vì ít chăm sóc (một phần gì chán, một phần vì tuổi già và nhất là bây giờ mê cô em gái mặn mà tên FB). Tôi thích Lan, thích Huệ chớ không bị ảnh hưởng gí đến câu ca dao:
"Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo
Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi"

Bây giờ ở Úc là gần 3 giờ sáng, tôi vẫn tìm xem có bài nào liên quan đến Huệ không? Có nhiều truyện ngắn rất cảm động nhưng hơi dài mà kinh nghiệm cho tôi biết post bài dài thì ít người đọc đến hết mà chỉ like cho có lệ. Thôi thì giới thiệu loài hoa này đến các bạn, nhất là bạn trẻ sinh ở nước ngoài có thể chưa biết hay chưa thấy loài hoa tinh khiết này nhé.
Ý NGHĨA CỦA HOA HUỆ TRẮNG

Huệ hay còn gọi là dạ lai hương (thơm ban đêm) hoặc vũ lai hương (thơm lúc mưa), là một loài hoa đặc biệt, nở về đêm, có khả năng tỏa hương về ban đêm với mùi hương ngào ngạt. Ở Việt Nam, hoa huệ dùng để cắm trong các dịp cúng, lễ, còn gọi là huệ ta, để phân biệt với hoa huệ trong bức tranh nổi tiếng "Thiếu nữ bên hoa huệ" là huệ tây (Lilium longiflorum), hay còn gọi là hoa loa kèn.

Huệ có thể là:
* Tên một loài thực vật có hoa: Polianthes tuberosa, thường để cắm trong các dịp cúng, lễ,...;

* Tên một số loài thực vật có hoa khác như huệ tây (còn gọi là loa kèn - Lilium, trong đó có loài huệ tây nổi bật Lilium longiflorum trong bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ"); lan huệ (Hippeastrum); huệ da cam (Clivia miniata)...

* Một khái niệm trong Phật giáo: bát-nhã (có nghĩa là huệ, trí huệ)
Phân loại khoa học
Giới (regnum): Plantae
(không phân hạng): Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
Bộ (ordo): Asparagales
Họ (familia): Agavaceae
Chi (genus): Polianthes
Loài (species): P. tuberosa
Tên hai phần: Polianthes tuberosa L.
Ý nghĩa - Biểu trưng
Hoa Huệ - Biểu trưng cho Sự thanh khiết .
Đặc điểm
Hoa huệ thuộc họ Thùa (Agavaceae), hình giáng giống cây tỏi. Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ xẻ, cây thấp hoa ngắn và thưa. Huệ kép còn gọi là huệ tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài hơn.
Hai giống này có thể phân thành nhiều loại trong đó có huệ trâu cao khoảng 1,5- 1,6 mét bông dài. Huệ ta bông ngắn, thường nở trên cây, có mùi thơm, ngoài ra còn có huệ đỏ.
Hoa huệ có màu trắng, bao hoa hình phễu, hương ngào ngạt, toả hương về ban đêm. Nhiều người cho rằng hương thơm của huệ không tốt cho sức khoẻ nên ít ai cắm huệ trong phòng ngủ.
Cây hoa huệ là cây ưa ánh sáng, cho hoa quanh năm. Tuy nhiên, hoa huệ nở chủ yếu vào mùa hè còn mùa đông cho ít hoa, hoa nhỏ, bông ngắn hơn.
Hoa huệ có cấu tạo cánh khá đặc biệt, khi không khí có độ ẩm cao, những khí khổng (lỗ trao đổi khí) trên cánh hoa tự động mở to để dầu thơm thoát ra ngoài. Ban đêm tuy không có nắng, nhưng độ ẩm không khí lại cao hơn ban ngày, cho nên các khí khổng mở to cho mùi thơm thoát ra (mở túi thơm). Chính vì thế, ban ngày hoa huệ chỉ toả hương thoang thoảng, nhưng ban đêm nó lại thơm ngào ngạt.
Hoa huệ toả mùi thơm theo độ ẩm, vì vậy không chỉ ban đêm, mà vào ban ngày, kể cả khi trời mưa, độ ẩm không khí cao, hoa huệ cũng thơm hơn ngày nắng.
Tập tính nở về đêm của huệ hình thành qua quá trình tiến hóa tiến hoá. Do hoa tỏa ra mùi thơm để thu hút côn trùng đến thụ phấn, duy trì nòi giống, vì vậy hoa thụ phấn nhờ vào các loại côn trùng hoạt động vào ban đêm đặc biệt là hoa huệ thụ phấn nhờ bướm đêm, nên phải nở vào ban đêm để thu hút những loài côn trùng này.
Cây hoa huệ thuộc họ thuỷ tiên, trông từa tựa cây tỏi. Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ xẻ, cây thấp hoa ngắn và thưa. Huệ kép còn gọi là huệ tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài hơn.
Cây hoa huệ là cây ưa ánh sáng, cho hoa quanh năm. Tuy nhiên, hoa huệ nở chủ yếu vào mùa hè còn mùa đông cho ít hoa, hoa nhỏ, bông ngắn hơn.
Văn hóa
Người ta cho rằng hương thơm của huệ không tốt cho sức khoẻ nên ít ai cắm huệ trong phòng ngủ, nếu có thì ban đêm phải đưa ra ngoài sân. Huệ là thứ hoa được dùng nhiều trong việc cúng, lễ mà ít dùng để tặng nhau. Cắm huệ vào bình nên rửa chân hoa và thay nước hàng ngày để giữ hoa được lâu. Nước cắm hoa nên nhỏ vài giọt thuốc tím hay thuốc đỏ để diệt khuẩn gây thối chân hoa.
Ở Việt Nam, hoa huệ là thứ hoa được dùng nhiều trong việc cúng, lễ mà ít dùng để tặng nhau. Cắm huệ vào bình nên rửa chân hoa và thay nước hàng ngày để giữ hoa được lâu. Nước cắm hoa nên nhỏ vài giọt thuốc tím hay thuốc đỏ để diệt khuẩn gây thối chân hoa.
Hoa Huệ được trồng nhiều tại miền Bắc và một số vùng ở miền Trung. Hoa huệ được tiêu thụ nhiều nhất vào mùa lễ hội, đi chùa sau tết âm lịch ở Việt Nam.
Hiện nay, huệ đang được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam, đặc biệt là các vùng trồng hoa lân cận Hà Nội.
Nguồn gốc hương thơm
Những ngày trời mưa, huệ cũng toả mùi thơm ngào ngạt.
Tục ngữ ta có câu "hoa không phơi nắng không thơm", ấy là vì khi ánh nắng rọi xuống, nhiệt độ tăng lên, làm dầu thơm trong cánh hoa thoát ra nhiều. Nhưng đêm thì làm gì có nắng, vậy mà hoa huệ lại toả mùi thơm hơn cả ban ngày. Tại sao
So với các loài hoa nở ban ngày, hoa huệ có cấu tạo cánh khá đặc biệt. Mỗi khi không khí có độ ẩm cao, những khí khổng (lỗ trao đổi khí) trên cánh hoa tự động mở to để dầu thơm thoát ra ngoài. Ban đêm tuy không có nắng, nhưng độ ẩm không khí lại cao hơn ban ngày, cho nên các khí khổng mở to cho mùi thơm thoát ra. Vì vậy, tuy ban ngày hoa huệ chỉ toả hương thoang thoảng, nhưng ban đêm nó lại thơm ngào ngạt.
Cũng vì hoa huệ toả mùi thơm theo độ ẩm, nên nếu chú ý bạn sẽ thấy không chỉ ban đêm, mà ngay cả ban ngày, vào những hôm có mưa, độ ẩm không khí cao, hoa huệ cũng thơm hơn ngày nắng. Vì lẽ đó, hoa huệ còn có tên là dạ lai hương (thơm ban đêm) hoặc vũ lai hương (thơm lúc mưa).
Mặt khác, hoa huệ thơm về đêm cũng vì một lẽ rất đơn giản, ấy là đa số các giống huệ đều nở về đêm. Tập tính này của huệ có lẽ đã hình thành qua nhiều thế hệ tiến hoá. Bình thường, hoa tỏa ra mùi thơm để mời côn trùng đến thụ phấn, duy trì nòi giống. Đa số hoa thụ phấn nhờ vào các loại côn trùng hoạt động vào ban ngày, vì vậy chúng nở vào ban ngày để quyến rũ ong bướm. Tuy nhiên, hoa huệ thụ phấn nhờ bướm đêm, nên nó phải chuyển giờ nở sang đêm để chiều lòng "khách" vậy.
Seminoon

Kết quả hình ảnh cho huệ mưa GN
Huệ mưa
GN - Người Huế hay gọi là Huệ mưa, cây ngải, một loài lan đất, cây dã rượi; ngoài miền Bắc gọi là hoa tóc tiên.
Hoa đẹp như bông tuyết, tuyết thật đẹp nhưng quá lạnh. Ở xứ nóng, bạn muốn có một chút tuyết lạnh để cảm nhận mình đang rất ấm áp thì bạn phải mất tiền mua vé vào nơi người ta trang trí con đường và hàng cây bằng tuyết nhân tạo. Và bạn không ngờ rằng, con đường tuyết đó chỉ là bọt xà phòng làm sự hấp tấp vì quá vui mừng của bạn trượt ngã. Và bạn sẽ đau.
Thông thường cô thở bằng miệng mỗi lúc cảm thấy ngột ngạt. Cô thường đứng nhìn và đếm từng bậc thang xuôi, từng đường mòn ký ức, nhìn từng bước đơn điệu với tầng áp suất thấp dần. Cảm nhận từng cơn áp thấp đang trì hoãn nỗi buồn. Cô đang cố mỉm cười rằng mình đã chạy không ngừng nghỉ suốt bao nhiêu năm. Lại có điều gì đang nói với nhau trong đêm. Có thể chúng nói với cô về một điều đã quên mất từ dấu delete của cái bản thảo rất dài mà cô đã mê mải viết ra, cắt gọt chúng đến khi trời gần sáng. Trân trọng, thẳm sâu, tựa như nhìn một bức ảnh chụp những ngôi nhà khuất nửa sau con đường ở những miền xa xa lắm.
Hôm nay cô đọc “Thiên thần và ác quỷ”, cô hình dung ra những gương mặt thiên thần đang lướt đi trên đôi cánh của giấc mơ. Cô lo sợ mình sẽ hắc xì vì những hạt bụi đang bám vào cánh mũi, giấc mơ sẽ nảy thành những đom đóm trong mắt và bị đốt cháy. Những gương mặt thiên thần sẽ tan chảy trên sự nuối tiếc, và cô sẽ phải nhìn thấy thế giới này chỉ còn lại những gương mặt của ác quỷ, những ngón tay của cô sẽ cùn đi trong sự chới với, cô đang cố níu vào giấc mơ để đào thoát khỏi nỗi lo sợ hãi hùng.
*
Cô đang ngồi trên tầng 50, nó thật gần với mây, cô nghĩ như vậy, thân mây đã bổng bểnh trôi qua một cuộc hôn nhân như mơ của cô và người họa sĩ thường vẩy màu cả trong giấc ngủ. Cô nghe mây ghé lại thầm thì vào tai. Cô thấy tựa như chúng đang sờ vào đôi tay nàng, mỏng mảnh, cả mùi hơi thở. Rất quen thuộc. Nhưng hiện tại những bức họa đâu còn mây nữa chứ, chúng có màu rực rỡ, chúng chảy dài từng sợi và óng ánh trong những đôi tay đang vây lấy ai kia. Cô phải trôi đi thôi, mình đã như là một đám mây xám, cô nghĩ vậy.
- Này bạn, bạn có muốn nhìn ảnh mình chụp từ tầng 50 tòa nhà Bitexco không? - cô gọi điện cho một người bạn gái.
Những bức ảnh Sài Gòn về đêm lung linh. Cô gửi chúng đi, và xóa trong máy. Cô chỉ muốn lưu lại chúng bằng ánh mắt của mình bây giờ. Ở trên cao kia, trên bầu trời ấy, có lẽ có ba mẹ, và cả ai đó đang nhìn cô. Cô mỉm cười. Một ngày thu đẩy những đám mây màu bạc phớt qua mái tóc. Cô muốn trở về nhà. Về Huế.
*
Ở xứ này mùa mưa ướt dầm dề, lạnh cóng. Sáng sớm tinh mơ cô có thể nhìn thấy người người ngược xuôi trong làn sương mù. Con đường còn ướt đẫm và đâu đó có xác một con chuột cống bị xe cán chết máu vẫn còn tươi. Cái lạnh len lỏi vào những góc quán hàng ăn ở vỉa hè. Những nồi bún bò bốc khói thơm lừng. Những tiếng xì xoạp húp vội vàng của những người đàn ông sợ trễ giờ làm.
Một chiếc xe taxi lao tới và đỗ xịch, nó dừng sát một chiếc xe máy của một bà mẹ trẻ và đứa con, từ vũng nước đọng lại từ cơn mưa tối qua văng lên tung tóe. Ướt nhèm lên cả mặt. Đứa bé khóc ré. Lời qua lại. Người chỉ chỏ. Cô thấy buổi sáng đã quá nhiều hình ảnh và âm thanh.
Phố vẫn mưa lạnh lất phất. Lạnh lắm. Cái lạnh thấm tê xương. Con đường mới đã bị nứt qua một mùa phố dầm dề. Vẫn lê thê những câu chuyện rong ruổi đi và về. Chuyện của người đi kẻ ở chứ chưa hẳn là chuyện của một người đi làm công sở ngày hai buổi. Kẻ nóng bức từ buổi sáng nhặt nhạnh, người đi lạnh cóng sương mù. Xứ này là như thế. Bởi vậy nên khi người ta buột miệng: phố chợ man di, kiểu như tiếng chó ẳng ẳng và tấm thân bị kéo riết trên lề đường cùng với tiếng xe máy rú như điên dại, mặc tiếng người ta la hét phía sau. Hoặc như người ta thấy anh dẹp trật tự lôi xềnh xệch cái quang gánh của một mệ già ốm yếu bán mấy mớ rau ớt ven đường làm mệ ngã, người ta làm ngơ và im lặng. Cái im lặng có vẻ sợ hãi, có vẻ mong cho điều xui xẻo đừng dây dưa với mình... Có người không yên phận lại đứng ra bênh vực và chửi lũ du côn thì lại có người phản ứng: “Đang yên đang lành, cầu mong Trời Phật lượng xá cho con cháu lỡ lời”. Đúng là nói như anh bạn tôi: “Đúng là phố chợ man di”, còn cô ấy thì bảo: “Cái thời này thì não cũng bị phun thuốc tăng trọng nên phù nề”. Nhưng ở mảnh đất này vẫn còn có sự ngủ yên của những mảng ký ức của cô với những người thân yêu. Cô nhận ra rằng, cuộc sống cần có một chút lạnh và đau thì mới là đầy đủ. Cô đang thèm một chút cốt cách của tuyết để chực tan ra.
Ngoài kia phố xá vẫn nóng bức, vẫn ồn ào. Cô nghe đâu đây mùi của tuyết, cái tuyết nhiệt đới có mùi sao mà quen thuộc đến thế.
*
Mấy ngày nay thời tiết càng nóng dần. Tuyết đang tan, cô nghĩ vậy.
Cô đang điểm tô cho ngày mới, hôm qua đã quá phiền muộn. Cô phải chờ đợi nó đã từ lâu. Bây giờ đã gần hết tháng Bảy, đã bắt đầu mùa mưa cuối hạ.
Cô đang chọn màu sơn cho những chiếc móng tay, hôm nay cô có hẹn hò với mấy người bạn. Đã từ lâu, cô ít ra khỏi nhà nếu không vì công việc. Cô ở lì trong nhà, rồi gặm nhấm với nỗi nhớ về ba mẹ, về thời gian đã quá vãng. Cô sửa lại gọng mắt, hình như cảm thấy đôi mắt cô to hơn khi tháo cặp kính ra. Kệ. Cô vẫn là con bé ngày xưa nũng nịu và cố chấp. Hôm nay cô chọn màu sơn màu hồng phấn, cô nhớ về màu móng tay ngày xưa mẹ hay sơn. Cô cố hình dung thật cụ thể, thật gần, đường sơn quét bóng trên đôi tay kiêu sa đã sần sùi vì mấy chị em cô. Màu hồng tươi, chúng mơn mởn sắc. Thuở bé, cô hay được về thăm ngoại với ba mẹ. Nhà ngoại trồng hoa này nhiều lắm, chúng mọc trong những kẽ đất - chỗ khít những viên gạch lát sân, chúng mọc quanh gốc cây mai già. Mẹ kể: “Ngày xưa bà ngoại con gọi những chậu hoa này là chậu ngải, những chậu ngải hoa nở đầu mùa mưa, chúng thật đẹp nhưng cũng đầy bất trắc”. Cô chẳng biết ngải là gì, chỉ thấy chúng thật đẹp, cô hay hái và dán lên đầu những móng tay. Nhìn chúng thật muốt dài, và đầy cám dỗ.
Ngày ấy, cô được hơn mười tuổi, cái tuổi đã bắt đầu cho sự lớn khôn.
*
Một ngày mưa, café một mình. Quán Chiêu Ê thật yên tĩnh. Những giọt tranh bện vào đôi mắt. Chúng huyền hơn. Một ngày đã ổn hơn nhiều so với hôm qua.
Một âm thanh nào đó cho linh hồn. Tuyệt. Cô đang tận hưởng nó đang rót vào đôi tai. Đó là bản hòa âm tuyệt vời mà cô đang lắng nghe. Từng ngày, từng giờ. Chúng vọng lại ở đâu đó là một tiếng cười nhỏ, lời tạm biệt, lời xin lỗi. Vẫn vui nhé bạn, cô thầm thì, cô đã buông bỏ những dấu chân trên cái bóng cũ của mình đã lâu. Những cánh hoa rung rinh đọng lại những cảm xúc mà cô vừa chợt sờ thấy. Mưa. Vẫn là mưa cuối hạ. Hôm nay cô thấy nó có vị ngọt ngào.
- Ai bảo “nước mưa cưa trời” ? - cô lại thầm thì.
Từng bước chân sải dài. Bóng chiếc áo đỏ loang loáng dưới lòng đường đầy mưa. Cô nhìn. Tựa như một sinh linh của đất đang đi về phía ngôi nhà thân yêu của mình. Huệ mưa đã nở rực.
Chúng bắt đầu mưa. Một khoảnh sân bắt đầu nhú lên những nụ hoa búp hồng mỏng mảnh. Huệ mưa đang đưa những búp tay hồng. Cô lặng yên, nghe từng hạt mưa nở trên cánh nhỏ.
N.H.A.T
Hình ảnh có liên quan
Sự tích hoa Huệ  
Ngày xưa, xưa lắm có một người hay chữ nhưng lại thích lên rừng hái lá thuốc, nhất là tìm kiếm trầm hương để chữa bệnh cứu người. Trầm hương là một thứ nhựa do cây gió tiết ra như thể tự chữa những chỗ cây bị chém, bị gẫy. Nó có mùi thơm và chữa được nhiều thứ bệnh cho người nhưng tìm được nó không phải là dễ. Phải lặn lội trong rừng sâu và trước mỗi lần đi kiếm trầm hương, người ta phải làm những việc thiện, phải tắm rửa thật sạch sẽ.
Người thích đi tìm trầm hương kia đã góa vợ. ông có hai người con trai đã ra ở riêng với một cô gái nhỏ người mảnh khảnh, da trắng mát. Cha đi lên rừng thì cô ở nhà phơi thuốc cho cha. Cô cũng được học một ít chữ nghĩa, hiểu được nhiều điều phải trái ở trên đời. Cô rất thương cha và chăm sóc cha với tất cả lòng thương yêu của mình. Lần ấy, có một tên tướng cướp đẹp trai nhưng tính khí lại độc ác, đem quân sang cướp phá vùng hai cha con đang ở. Bà con bị chúng sát hại ngày một nhiều mà quân lính nhà vua thì không thấy bóng dáng đâu cả. Biết tên giặc có căn bệnh đau đầu quái ác, người cha bàn với các cụ già trong vùng để ông đem mẩu trầm hương quý nhất đến bán cho tên giặc, nhân đó tìm cách trừ khử nó luôn. Một cụ già liền nói:
-Khó lắm! Nghe bảo không bao giờ nó cho người lạ gặp mặt! Cụ làm sao đến gần để giết nó? Một cụ khác tiếp theo:
-Theo tôi, với thằng giặc này phải con gái đẹp may ra mới trừ được nó. Cha cô gái liền nói:
-Nhưng tôi nghe đồn rằng thằng này đẹp trai lắm, lại có nhiều của quý thành ra đàn bà con gái đến gần nó là mê nó liền. Các cụ bàn rất lâu, rất lâu, cuối cùng việc trước mắt là phải đi tìm cho được một cô gái đẹp, vững vàng không bị nó mê hoặc mà còn đủ sức để giết nó. Sau khi các cụ già ra về, cô gái mảnh khảnh, da trắng mát liền thưa với cha:
-Cha ơi, cha để con mang trầm hương xuống gặp tên giặc ác kia, nhất định con sẽ trừ được nó. Con nghe bao nhiêu người bị chết vì nó, con không thể chịu được! ông cụ nghe con nói trúng ý mình, lòng rất vui nhưng cũng rất lo. Liệu nó có làm được công việc nguy hiểm và quan trọng ấy không? ông cụ nhìn con rồi nói:
-Việc không dễ dàng gì đâu con ! Khi nghĩ trong đầu thì khác, mà khi vào việc lại khác.
-Xin cha đừng lo! Con nhất định làm được mà. Vừa lúc đó hai người con trai ông cụ, các anh của cô gái cũng vừa rủ nhau về để xin cha cho đi trừ khử tên tướng cướp. Nghe cha cho biết ý kiến của cô em gái, người anh thứ hai liền gạt đi:
-Thưa cha không được đâu! Nó là thân gái, chúng con là trai lẽ nào chúng con lại để cho nó đi vào nơi nguy hiểm chết người trong khi chúng con lại ru rú ở nhà. Người anh cả tiếp theo:
-Nó đi thì cũng có cái lợi, nhưng cái bất lợi thì lớn hơn gấp bội. Chắc điều ấy cha đã biết rồi. ý người anh cả muốn nói là chưa chắc gì khi gặp tên tướng cướp đẹp trai, cô em mình có đủ sức để khỏi bị nó quyến rũ như bao cô gái khác. Người em gái liền nói:
-Cám ơn hai anh đã lo cho em. Nhưng hai anh thử nói cách hai anh định giết nó như thế nào? Người anh thứ hai bèn đáp:
-Hai anh đã bàn rồi. Anh và anh cả sẽ mang trầm hương loại quý xuống bán cho nó rồi hứa: “Nếu trong ba ngày thuốc không trị hết cái bệnh đau đầu quái ác của nó thì nó cứ chém anh đi”. Vậy là trong ba ngày ở gần nó anh và anh cả thế nào cũng tìm cách giết được nó.
-Nếu trong ba ngày đó nó cứ giam hai anh ở một nơi xa thì làm sao mà giết được.
-Các anh sẽ làm ra vẻ đần độn và hết lòng khâm phục nó.
-Nhưng các cụ cho biết thằng này là một đứa chưa hề cho ai đến gần, dù là một đứa bé lên ba! Chỉ trừ có những người con gái như em… Người anh cả bỗng hỏi lại:
-Còn nếu em đi thì em làm cách nào mà giết được nó?
-Em đã nghĩ rồi. Em chỉ xin cha một cây kim có tẩm thuốc độc. Em gói rồi giấu kỹ vào búi tóc, em chỉ cần rạch khẽ một đường vào tay nó là đủ để giết nó. Người cha nhìn đứa con gái, lạ lùng và sung sướng vì nó lại nghĩ đúng như ý mình. Bốn cha con bàn cãi với nhau mãi. Cuối cùng người anh cả được cha cho phép đi với em gái tìm gặp tên tướng cướp lợi hại kia, tìm cách giết cho được nó, cứu giúp bà con cả vùng.
Các cụ già được tin rất cảm phục và quý trọng cô gái. Cụ nào cũng ân cần dặn dò điều nọ, điều kia. Hai anh em vừa đi, vừa nghe ngóng tin tức về bọn cướp rồi cùng bàn thêm cách diệt trừ nó. Hai ngày sau, hai anh em đã đến chỗ bọn cướp đóng, một nơi có khá đông người. Chúng chưa phá phách gì vùng này, chỉ ở rồi hàng ngày kéo đi cướp phá các vùng xung quanh, tối lại kéo về. Tên cướp rất đẹp trai, có cái bệnh đau đầu kỳ quái, ở trong một ngôi nhà to nhất, nằm giữa nhiều ngôi nhà khác, xung quanh đều có lính canh gác cẩn mật. Sáng hôm ấy, cô gái vừa đi vừa rao to: Từ vết đau, từ vết thương Mà Sinh nên loại trầm hương nhiệm màu ôi mua trầm ra mua mau Trầm này trăm chứng đau đầu khỏi ngay Thấy dáng con gái, lại rao bán trầm quý, những tên lính một mặt chạy ra bắt hỏi, một mặt báo cho tên tướng cướp biết là có người rao bán trầm hương. Tên tướng cướp liền lệnh cho khám xét thật kỹ và đưa cô gái vào cho nó gặp mặt một cách kín đáo. Đứng ở trong trướng nhìn ra thấy cô gái mảnh khảnh, da trắng mát, nó thích lắm. Nó cho lính hỏi kỹ và bảo đưa trầm hương cho nó xem. Cô gái liền đáp:
-Trầm hương này chỉ đổi bạc hoặc vàng. Đưa vàng bạc trước tôi mới đưa trầm hương.
-Bao nhiêu bạc, bao nhiêu vàng?
-Vàng thì một nén còn bạc thì mười nén. Tên tướng cướp ra lệnh đưa mười nén bạc để lấy trầm hương. Tên lính cầm mảnh trầm hương trong tay rồi hỏi:
-Nếu trầm hương giả thì sao?
-Thì tôi chịu tội.
-Tội gì?
-Tội gì cũng được! Trầm hương này là của quý thật mà!
-Trầm hương chữa bệnh như thế nào?
-Đeo trầm trước ngực, lúc đau đầu thì mài ra uống. Lần đầu còn lâu mới khỏi, về sau cứ uống một lúc là khỏi ngay. Cô gái nói xong cầm mười nén bạc quay ra. Tên lính bỗng chạy theo đứng chặn trước mặt bảo:
-Mời cô vào gặp chủ soái của tôi.
-Chủ soái à, chủ soái là gì, là ai?
-Cô cứ vào khắc rõ.
-Không, cha tôi đang đợi ở nhà, tôi phải về. Nhà tôi xa lắm.
-Nhà cô ở đâu? Cô gái theo lời người anh dặn, đã nói tên một cái làng cách đấy khá xa mà bọn cướp chưa đến quấy phá. Tên lính gật đầu nói:
-Vậy thì không xa lắm đâu. Cứ vào gặp chủ soái tôi một lúc rồi hãy về. Cô gái vừa mừng vừa hồi hộp đi theo tên lính. Nhìn thấy tên cướp, cô gái bỗng bàng hoàng cả người. Sao nó lại có thể đẹp đến như vậy! Tướng cướp đấy ư? Cô thấy như mình đang nằm mơ. Tên lính vẫn đi ở cạnh cô, đề phòng mọi bất trắc. Tên tướng cướp tươi cười mời cô ngồi xuống ghế, cách hắn không xa lắm. Cô gái không dám nhìn hắn thêm. Giọng hắn nghe thật ấm áp:
-Nếu tôi mời cô ở lại luôn tại đây, cô có bằng lòng không? Cô gái nhớ đến cha đến anh, đến việc cần phải làm liền nhìn hắn giây lâu rồi đáp:
-Tôi sợ lắm! Cha tôi đang chờ tôi ở nhà!
-Tôi sẽ mời cha cô đến ở đây luôn! Cô vừa lòng chứ? Cô gái nhìn hắn, càng sững sờ vì sao hắn lại đẹp thế mà không có một chút vẻ gì là tàn ác cả!
-Tôi sợ lắm!
-Cô sợ gì? Sợ ai?
-Tôi không biết.
-Chẳng có gì phải sợ cả. Cô cần gì có nấy. Tôi sẽ quý cô hơn cả thứ trầm hương kia. Vì có cô tôi sẽ hết mọi thứ bệnh. Thật ra những điều hắn nói là những điều cô gái đang mơ ước đạt được. Cuối cùng cô gái nói, giọng rụt rè:
-Nhưng ông phải cho cha tôi cùng đến đây với tôi kia!
-Được rồi, chỉ vài hôm là tôi sẽ cho người đi rước cha cô đến. Đang nói chuyện, tên lính bỗng dẫn vào một cụ già mặt mày xây xát, có chỗ máu còn chưa kịp đông lại.
-Thưa chủ soái, lão già này đã dám dùng dao chém phó tướng bị thương và nhất định không chịu nộp một hạt thóc nào. Vẻ mặt tên cướp hơi thay đổi một chút, hắn nhìn chăm chăm vào cụ già rồi nói:
-Hãy cho lão ta ăn món “thịt nướng” xem lão có chịu nghe không? Tên lính dẫn cụ già ra. Cụ già lườm mắt nhìn tên tướng cướp và cô gái rồi đi ra theo tên lính. Cô gái hiểu ngay và bỗng nhớ đến cha mình… Tên tướng cướp đang ngồi im nhìn cô gái bỗng đưa tay ôm lấy đầu, vẻ mặt hơi nhăn nhó. Hắn nhăn nhó mà nhìn vẫn đẹp. Hắn hỏi cô gái:
-Mài trầm hương uống được chứ?
-Vâng, xin cứ mài và mời ông uống thử luôn! Tên tướng cướp gọi lính hầu vào mài ngay trầm hương theo cách cô gái bày cho. Nó đã đến gần cô gái hơn một chút. Cô gái nghĩ bụng: Giá anh mình đừng dặn, mình có thể giết ngay nó bây giờ. Nhưng anh mình đã dặn: “Đừng có vội vàng sốt ruột, phải giết được nó mà vẫn trở về với cha, với hai anh và bà con hàng xóm. Cha sẽ không tài nào sống nổi nếu thiếu em…” Tên tướng cướp uống xong mấy ngụm trầm hương rồi đi vào nằm nghỉ ở buồng trong. Hình như cơn đau của nó có dịu đi. Cô gái được tên lính đưa qua một buồng bên và bảo:
-Mời cô tạm nghỉ ở đây, cần gì xin cứ sai bảo! Đêm đó tên tướng giặc đem ra bao nhiêu quần áo đẹp, bao nhiêu của quý tặng cô gái và nói:
-Nàng mà nhận làm vợ ta, nàng sẽ tha hồ sung sướng. Cô gái chỉ im lặng. Nhưng Tên tướng cướp đêm đó vẫn để cô được yên vì hắn vẫn còn ngờ vực. Hắn biết rằng: nếu người con gái mà chưa mê hắn thì vẫn có thể làm hại hắn được. Biết đâu người con gái này lại chẳng đến trả thù cho cha mẹ mình, cho anh em mình! Hắn biết là hắn đã gây nên bao tang tóc. Mà của đã ở trong tay, còn sợ gì mất được. Cô gái lo quá.
Vì theo lời anh cả dặn thì đêm ấy cô phải lấy kim rạch cho được vào tay tên tướng cướp rồi sau tìm cách chạy đến ngả đồi phía tây, nơi dễ trốn nhất, và anh cô sẽ đón cô ở đó. Vậy mà suốt đêm hôm ấy người anh cả đợi mãi không thấy cô ra. Anh bắt đầu lo. Lẽ nào nó lại cũng như bao đứa con gái khác, bị tên tướng cướp mê hoặc mất rồi. Tính anh hay sốt ruột. Vì vậy, sáng hôm sau, anh giả vờ là người bán vải, đi ngang qua xóm đó để nhìn xem có thấy người em gái của mình. Vừa đúng lúc cô gái đang đứng ở trong phòng và bưng đưa cho tên tướng giặc một chén rượu. Thôi! Đúng là nó mê cái thằng tướng cướp đẹp trai kia rồi. Người anh cả giận quá, nhưng vẫn giả vờ rao bán vải rồi đi luôn. Vải thì lũ cướp cần gì mua. Chúng muốn cướp ở những nơi chúng quấy phá bao nhiêu chẳng có. Người em gái từ xa cũng thấp thoáng thấy bóng anh mình. Nhìn cái dáng đi cô biết là anh đang giận lắm. anh ơi đừng nghi oan cho em. Em phải làm cho nó tưởng là em mê nó, và đêm nay em sẽ dùng cây kim của cha cho vừa bảo vệ mình vừa trừ khử nó luôn… Đêm đó tên tướng giặc vẫn để cô gái được yên thân. Hắn khôn khéo nói với cô:
-Ta muốn chờ ông cụ đến rồi ta sẽ làm lễ xin nàng làm vợ.
Người anh đêm ấy vẫn đến đợi em ra. Bây giờ thì anh đinh ninh là em mình đã bị tên tướng cướp đẹp trai mê hoặc thật rồi. Anh giận lắm và nghĩ: “Ngay từ đầu mình đã đoán không sai… thôi, mình phải nghĩ cách khác trừ khử tên tướng cướp vậy”. Đến đêm thứ ba, tin là cô gái đã mê mình, tên tướng cướp ở lại trong buồng với cô. Nhưng hắn vừa ôm lấy cô thì cô đã kịp lấy cây kim có tẩm thuốc độc rạch một cái vào tay hắn. Hắn kêu lên một tiếng rồi hoảng hốt hỏi:
-Nàng làm cái gì vậy? Cô gái liền khéo léo nói:
-ại, em xin lỗi chàng! Em vừa lấy cái kim ra khâu lại cái khăn mà quên chưa cất, chàng có đau lắm không?
-Không, không việc gì! Nói rồi hắn lại ôm chầm lấy nàng. Bỗng hắn ngã vật ra, nằm lịm đi như ngủ say. Cô gái liền mở cửa buồng chạy ra ngả đồi phía tây. Đêm tối giơ bàn tay ra không thấy. Cô gái mừng lắm, nhưng chạy đến bờ rào thì chẳng thấy người anh đâu cả. Cô hoảng quá đang nhìn trước, nhìn sau thì một tiếng quát vang lên:
-Ai đó! Mấy tên lính chạy đến, bắt cô dẫn trở về buồng. ở đây tên tướng giặc chỉ còn là một cái xác. Tên phó tướng nghe tin chạy đến. Nó biết ngay là cô gái đã giết chết chủ soái của nó. Nó rút gươm đâm chết cô ngay. Nhưng cũng ngày hôm sau, nó ra lệnh cho quân lính của nó mau mau rút lui về nước. Vì nó nghĩ bụng: ở một nơi mà một đứa con gái cũng dám xông vào sào huyệt của bọn chúng để giết tên chủ tướng, thì nơi đó không nên ở lại lâu thêm. Nhất là hắn lại nghe tin quân lính của nhà vua cũng đang trên đường đến đây để trừ khử chúng. Trước khi đi, bọn chúng không quên vơ vét của cải của bà con xung quanh lâu nay đã phục dịch chúng. Người anh cả của cô gái, sau khi tìm được xác em, đã cùng bà con chôn cất cô rất chu đáo. Anh trở về nhà, lòng đau buồn vô hạn. Ngày đi thì có đủ hai anh em. Ngày về chỉ có một mình anh. Cha mình rồi sẽ sống ra sao? anh ân hận vô cùng vì đã nghi ngờ chính em mình. Nếu đêm thứ ba anh vẫn đến đón thì biết đâu em gái anh đã chẳng thoát được khỏi tay bọn ác quỷ . Về đến nhà, anh kể hết sự tình rồi nhận tội với cha. Cha anh giận quá đuổi anh đi ngay. Anh vào rừng, buồn rầu, sau đó chết đi hóa thành con ve kim cứ kêu và tự than trách một mình. Bà con trong vùng thương tiếc cô gái mảnh khảnh, da trắng mát đã chết đi để cứu bà con cả vùng gần xa khỏi tai họa lớn.
Bà con dựng một cái ôm nhỏ để tưởng nhớ cô. Bà con thường đem hoa đến trồng ở quanh ôm. Một lần có một ông cụ mang đến một cây hoa lấy từ trong rừng về. Hoa trắng muốt, năm cánh nở như sao và đặc biệt về đêm có mùi hương thật ngát, thật đậm phảng phất như có cả mùi trầm hương. Hoa kết thành chuỗi dài nở từ thấp đến cao, mỗi ngày nở một vài bông như để dành, để dụm về sau. Loài hoa ấy chưa có tên. Các cụ già liền bàn nhau lấy tên cô gái đặt tên cho hoa để sau này thấy hoa thì nhớ người. Tên cô là Huệ, nên hoa ấy ngày nay ta gọi là hoa Huệ
ST

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Nhạc - Thơ - Văn Một trăm ngọn nến

Hình ảnh có liên quan  
Tưởng niệm !
Trăm ngọn nến tưởng niệm người trăm tuổi,
Một thuở nào toả sáng ánh văn chương....
Thời gian qua một thoáng ngỡ như hương,
Bay xa mãi vẫn nhớ thương vườn cũ !!
NM
Kết quả hình ảnh cho ngọn nến động lung linh

MỘT TRĂM NGỌN NẾN

 Tên chủ nhà ghi trên tấm bảng đồng gắn phía trước cửa khiến tiếng gõ của tôi thêm mạnh dạn. Bên trong có tiếng giầy dép khua động. Rồi cửa mở. Chủ nhà, một người nhỏ thấp, giơ bắt tay tôi rồi ra hiệu mời tôi theo anh ta lên gác. Tôi bước lên một chiếc cầu thang gỗ. Ở đầu cầu thang nhìn qua một gian phòng rộng trên gác tôi thấy khoảng vườn cây xanh của một công viên nhỏ trước nhà sau một cánh cửa sổ mở rộng, khoảng trống tươi mát rất hiếm quí của Hà Nội bây giờ.
Tôi bước vào một phòng lớn trông như một thư viện. Một tủ sách rất rộng và cao chiếm nguyên một vách tường dài. Tủ gỗ đánh véc-ni bóng, sau ngăn kính những cuốn sách dầy cộm xếp ngay ngắn, trang trọng. Nhìn qua gáy tôi thấy có rất nhiều sách chữ Hán.
Giữa phòng là hai cái bàn phủ khăn trắng đặt liền nhau, trên để những chai rượu bia và đĩa đựng trái cây. Chủ nhà xếp tôi ngồi nơi một chiếc ghế đặt ở đầu bàn. Tôi nhìn hai dẫy ghế trống dài ở hai bên bàn, nói với chủ nhà:
- Anh bắt đầu làm tôi lo đấy. Tưởng đến thăm anh nói chuyện một lát thôi, không ngờ anh làm to chuyện quá.
Anh ta khẽ mỉm cười, nheo cặp mắt sáng sau cặp kính cận, nói:
- Có gì đâu. Nghe tin anh về một số anh em ở đây cũng muốn gặp anh. Vả lại hôm nay là một ngày rất đặc biệt, ngày sinh thứ 100 của Cụ. Chúng tôi cũng muốn làm cái gì để tưởng nhớ Cụ. Anh cứ tự nhiên nhé. Các anh em cũng sắp tới cả bây giờ.
Nói xong anh xin lỗi đi xuống cầu thang. Tôi nhìn xung quanh. Bên cạnh tôi trên một chiếc bàn nhỏ có đặt một máy vi tính để mở. Màn ảnh của máy hiện lên bức chân dung màu của bố tôi, bức tranh do họa sĩ Nguyễn Gia Trí vẽ.
Ngay trước mặt tôi, trên bàn, đặt một quyển sách rất dầy, bìa bọc giấy láng đề TỪ ĐIỂN VĂN HỌC bộ mới, Nhà xuất bản
Thế Giới.
Tôi giở trang sách. Trên trang giấy đầu dưới hàng chữ in Từ Điển Văn Học là hàng chữ viết tay nắn nót và chữ ký của chủ nhà.

Bản tặng anh Nguyễn Tường Thiết và gia đình Nguyễn Tường nhân 100 năm ngày sinh cố văn hào Nhất Linh. Hà Nội 25-7-2006.
Nguyễn Huệ Chi
*
Buổi sáng hôm ấy từ khách sạn Galaxy trước vườn hoa hàng Đậu tôi đáp xe ôm lên Yên Phụ. Chiếc xe hai bánh luồn lách trên đường Thanh Niên trong dòng xe cộ nườm nượp. Đường này xưa kia có tên Cổ Ngư nằm xuyên giữa hai cái hồ lớn của Hà Nội là hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Đến cuối đường, vòng qua khách sạn Sofitel, xe vào một con đường nhỏ ôm sát hồ Tây và ngừng lại trước một cái cổng gạch quét màu vôi vàng.
Tôi nhìn lên vòm cổng hình cánh cung đề hàng chữ LÀNG YÊN PHỤ rồi trả tiền bác lái xe thả bộ vào làng trên con ngõ rất hẹp thoải dốc. Mặt ngõ tráng xi măng sạch sẽ. Hai bên những căn nhà gạch nằm ép sát nhau, quét vôi trắng, ngói mái đỏ, hai ba từng cao. Nhiều nhà truớc có cửa song sắt thò ra những chấm đỏ hoa giấy.
Đi vào ngõ khoảng nửa cây số đến một khúc quành một tấm bảng bằng đá đen đập mắt tôi. Trên bảng có hàng chữ màu vàng ĐÌNH YÊN PHỤ dưới đề Di tích lịch sử văn hóa. Đã xếp hạng. Một mũi tên chỉ vào đình nằm phía bên kia ngõ. Ngay khúc quành một bờ xi măng cong vòng cao bằng đầu gối chắn ngõ với một cái đầm sen.
Khúc đường cong, đình Yên Phụ và cái đầm sen là ba điểm chuẩn giúp tôi định được vị trí ngôi nhà tôi đang tìm, ngôi nhà thời xửa xưa chúng tôi vẫn gọi bằng cái tên thân mật nhà cây liễu.
Nhà ấy là nơi tôi đã từng ở những ngày rất thơ ấu, cũng là nơi chú Sáu tôi, nhà văn Thạch Lam đã sống, viết và chết tại đó.
Đứng xoay lưng về phía đầm sen nhìn vào đình Yên Phụ nhà cây liễu nằm sát đình phía tay phải, ngay vị trí khúc đường cong. Trước nhà có bờ tường gạch chạy dài trên là lan can làm bằng những thanh sắt đầu có móc nhọn. Đằng sau hàng lan can ấy lại che đi bằng những tấm tôn sơn màu xanh khiến ở ngoài nhìn vào không thể nào thấy được ngôi nhà bên trong. Cuối bờ tường xây một cổng gạch có mái ngói, giữa cổng có hai cánh cửa sắt cũng sơn xanh đóng kín mít.
Theo trí nhớ tôi thì phía sau cổng mé trái là vị trí của một khóm tre. Khóm tre ấy không còn nữa. Nếu còn thì hôm nay tôi phải nhìn thấy nó ló lên cao khỏi bờ tường này. Khóm tre ấy cũng chính là khóm tre mà chú Thạch Lam tôi đã nhiều lần nhìn ngắm và tả những cảm nghĩ của mình trong Theo Giòng khi thấy "các lá tre thổi vút một chiều tôi cảm thấy một vang động âm thầm và kín đáo trong tâm hồn". Khóm tre ấy chắc là đã bị ai chặt mất từ một thuở nào xa xôi lắm cùng với cây liễu ven hồ Tây yêu quí của chú.
Không một khoảng hở để tôi có thể ghé mắt nhìn trộm vào trong. Tôi đứng ở ngoài tần ngần nhìn cánh cổng và bờ tường một lát rồi tôi quay trở lui, lững thững bước vào đình Yên Phụ ở sát cạnh, mang theo hình ảnh ngôi nhà mà mặc dù tôi đang ở rất gần nó, vẫn nguyên vẹn trong tôi là ngôi nhà cũ kỹ trong tâm tưởng sáu mươi năm trước.
Thủa ấy chúng tôi thuờng hay sang chơi bên đình Yên Phụ. Tôi còn nhỏ quá không thể nào nhớ hình dáng đình ra sao. Toàn thể khu này chỉ lưu lại trong trí tôi một màu xam xám nhàn nhạt trong đó hiện lên cái sân gạch bát tràng rộng thênh thang.
Tôi bước vào sân đình vắng lặng. Màu xám nhạt thì vẫn còn nguyên đấy, nhưng cái sân gạch bé nhỏ hơn rất nhiều so với ký ức. Trong sân có mấy vại sành lớn trồng những cây mẫu đơn trổ hoa đỏ thắm. Tôi đến gần nhìn những đóa hoa này và ngay tức khắc hiện lên trong mắt những chấm đỏ xoay tít. Thì ra tôi đã thấy hoa này rồi, ở đây, thời bé. Hoa mẫu đơn là tập họp của vô số những cánh hoa bé tí màu đỏ với những cọng hoa li ti hình ống. Chúng tôi thường ngắt những cọng đó rồi luồn một sợi tóc qua ống, thắt một đầu nút và vê tròn sợi tóc trên hai đầu ngón tay nhìn những cánh hoa đỏ xoay xoay như một cái chong chóng tí hon.
Không một bóng người. Từ lúc rời khỏi đường Thanh Niên để bước vào làng Yên Phụ những tiếng ồn ào của Hà Nội dường như đứng lại ở phía ngoài cổng làng. Trong tĩnh lặng hình như ngay cả tiếng chim kêu ở đây nghe cũng thanh sắc hơn. Tôi bước qua cái sân gạch. Nhưng thay vì đi thẳng vào đình phía chính diện tôi rẽ tay phải đi qua một cái vườn cây mà tôi đoán sau vườn là hồ Tây.
Bước ra khỏi bóng tối của vườn cây mắt tôi lóa đi trong giây lát. Phản chiếu ánh gắt nắng hè mặt hồ Tây như một tấm gương mênh mông bằng nước. Một bờ rộng xi-măng uốn vòng quanh đình Yên Phụ. Dưới bờ ấy sóng vỗ vào thềm mang theo những cánh bèo trôi rập rình. Tôi đi lần phía tay phải theo bờ nước cho tới lúc tôi không thể nào tiến xa nữa. Một hàng rào bằng lưới sắt ngăn đình Yên Phụ với căn nhà bên cạnh. Từ một bụi rậm nhìn qua lưới tôi lặng người thấy phía sau của căn nhà cây liễu cùng với mảnh vườn nhỏ ở ven hồ.
Ngôi nhà cũ của chúng tôi không còn nữa. Trước mặt tôi là một căn nhà gạch hoàn toàn khác, chắc là được xây rất gần đây vì màu nước vôi tường còn mới nguyên. Như vậy là từ hồi chú Sáu tôi ở đấy, căn nhà tranh của chú đã được xây lại hai lần bằng gạch. Tôi không thấy được toàn thể phía sau nhà vì bị chắn bởi một bức tường rộng bằng gạch ở giữa vườn. Tường này có khoét ba cái cửa tò vò lớn lại có mái hiên lợp ngói được xây với mục đích trang trí hơn là thực dụng.
Trước là cái vườn nhỏ ngày xưa chúng tôi vẫn chơi đùa. Vườn thoải xuồng hồ. Xưa kia chỗ tiếp giáp với nước có cắm một hàng cọc tre lúc nào cũng vương bám những cánh bèo trôi bềnh bồng theo sóng vỗ. Những cánh bèo bây giờ vẫn còn đó, lại còn có vẻ dầy đặc hơn. Nhưng cây liễu trong tâm tưởng tôi thì biến mất. Chỗ đó bây giờ người ta trồng hai cây cau, giữa hai cây căng sợi dây kẽm phơi quần áo. Những chiếc cánh áo bay phần phật thay chỗ cho những nhánh liễu xưa kia lúc nào cũng chao nghiêng trong gió.
Một con chuồn chuồn xanh bay vụt trong trí nhớ tôi. Nó sà xuống đậu trên một chiếc lá liễu. Chà, con chuồn chuồn này thật to! Đầu bóng như hòn bi ve. Thằng bé đưa cánh tay thò phía sau đuôi con vật. Chiếc đầu bóng khẽ nhích một cái rất nhẹ như thể muốn ngoái nhìn phía sau. Thằng bé vội ngừng tay. Lát sau nó nín thở phóng tay thật nhanh nắm lấy chiếc cánh mỏng. Tôi còn nhớ lại như in cái cảm giác nháp nháp của những đường gân nhỏ trên cánh con chuồn chuồn áp vào làn da giữa hai đầu ngón tay. Thằng bé vạch bụng mình đưa đầu con vật gần lỗ rốn. Các anh nó nói để chuồn chuồn xanh cắn rốn sẽ biết bơi. Nó thèm biết bơi lắm. Nhưng cái miệng to ngoác của con chuồn chuồn làm nó sợ. Thằng bé tính thả con vật đi nhưng nó bỗng nghĩ ra được một trò chơi. Nó gập hai chiếc cánh chuồn chuồn làm một rồi lấy tay bứt đôi trước khi thả. Con vật với đôi cánh cụt ngủn không bay lên cao được. Nó đâm chúi xuống đám bèo. Thằng bé quên phắt con chuồn chuồn xanh. Mắt nó theo dõi những chấm đỏ vẽ loăng quăng trên đám bèo: vô số những con chuồn chuồn ớt đỏ chót là xuống nhón đậu trên những cánh hoa bèo tím, những hoa bèo nhấp nhô trên sóng nước mang những chấm đỏ rung rinh. Nếu mình biết bơi mình sẽ bắt những con chuồn đỏ ấy. Thằng bé nghĩ thế và nó tiếc đã không để con chuồn chuồn xanh cắn rốn.
Không biết bơi như các anh tôi, tôi cùng chị Thoa làm thuyền. Chị Thoa khéo tay lắm. Chị làm thuyền bằng những thân bèo ghép sát nhau giữ bởi những cây tăm cắm xuyên. Một cái đũa tre cắm giữa thuyền, một hai chiếc lá bèo to xuyên qua đũa làm cánh buồm. Chúng tôi làm nhiều thuyền như thế lắm. Nhưng những chiếc thuyền được thả xuống hồ không đi xa được vì thường bị vướng mắc giữa những đám bèo luôn luôn dầy đặc ở ven bờ hồ. Chúng tôi phải nhờ các anh lớn bơi ra ngoài thả thuyền ra khơi.
Những con chuồn chuồn bay lả trên đám bèo, những cánh bướm bay loáng trên bờ cỏ... Như thế đấy. Vỏn vẹn những hình ảnh vặt vãnh như thế lưu giữ mãi trong trong ký ức tôi về căn nhà của người chú... toàn những cái không đáng nhớ.
Nhưng chú Đinh Hùng thì khác. Trí nhớ của nhà thơ này mới thật đáng nhớ. Trong cuốn hồi ký viết về những kỷ niệm chia ngọt sẻ bùi cùng Thạch Lam chú đã tả quang cảnh nơi tôi đang đối diện này bẩy mươi năm trước như sau:
Tuy là nhà tranh nhưng ngăn nắp sáng sủa, có đủ cửa kính lẫn cửa chớp, có thềm cao, với một khoảng sân nhỏ mấp mé ngay bờ hồ, với cây liễu rũ cành lá xuống nước và khóm tre xào xạc ngoài cổng.
Tôi đã ngủ nhiều đêm dưới mái nhà ấy, và canh khuya, khi cái tiếng vọng mơ hồ của thành phố xa xa lắng dần vào không khí óng ả của vùng hồ nước mát rượi, nằm nghe sóng vỗ vào bờ thao thức, nghe hơi thở uyển chuyển của gió lùa qua khóm tre, tôi cảm thấy những thời khắc đó thật đáng quý, khung cảnh thật dịu lành mà quyến rũ, và tôi thấm thía tại sao Thạch Lam không muốn đổi ngôi nhà tranh của anh lấy bất cứ một lâu đài dinh thự nào...
Những người bạn văn nghệ mà tôi thường gặp ở nhà Thạch Lam dạo đó là: Nhất Linh, Khái Hưng, Trần Tiêu, Thế Lữ (cùng cả vợ nhỏ là nữ kịch sĩ Song Kim), anh bạn thơ Huyền Kiêu, Nguyễn Tường Bách, Đỗ Đức Thu, Đoàn Phú Tứ, đôi khi Nguyễn Xuân Sanh, Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Lương Ngọc, và một lần, Nguyễn Tuân, một lần Nguyễn Đỗ Cung...
Tất cả những người kể trên đều đã có lần tụ họp tại nhà Thạch Lam, thường thường quanh mâm rượu, thỉnh thoảng quanh chiếu tổ tôm hay cạnh khay trà. Ở địa vị chủ nhân tác giả Hà Nội băm sáu phố phường thực đã xứng đáng với cái danh Hào sĩ mà chúng tôi tặng anh.
Tôi không bao giờ quên được bữa rượu hội kiến đầu tiên có mặt Nhất Linh, Thế Lữ, Huyền Kiêu, Thạch Lam....
Từ trong nhà một người đàn bà đi ra bước qua cửa tò vò đến giữa hai cây cau. Người đàn bà túm lấy mấy chiếc áo khô bỏ trong một cái giỏ, lật mặt trái phơi tiếp mấy cái quần tây rồi bỏ đi vào trong nhà.
Trong căn nhà ấy... tôi nhìn thấy - qua con mắt của chú Đinh Hùng - hình bóng những người thân yêu đã khuất của tôi, bố tôi và các chú... đang ngả nghiêng đánh chén.
Khuya lắm, tiệc tàn. Bố tôi nằm trên chiếc võng giữa nhà, ê a ngâm thơ. Chú Sáu, chú Đinh Hùng và chú Huyền Kiêu thì loay hoay xuống bếp nướng mực và mò gậm giường lấy dưa chua trong vại ra nhậu... Cho đến rạng sáng, chú Sáu kêu người nhà đi mua thêm đồ nhắm. Bố tôi đã tỉnh ngủ từ hồi nào, ung dung ngồi vào dự tiệc. Trong khi tất cả đều say mèm bố tôi vẫn sung sức dẻo dai như khi bắt đầu uống. Bố tôi có tửu lượng rất cao. Hồi ở Đà Lạt tôi vẫn ngồi ngắm ông uống rượu. Càng uống ông càng ít nói, mặt chỉ tái đi chút đỉnh. Hồi ở bên Tàu - anh tôi kể - cậu đã từng uống thi whiskey với ba tay lính thủy Mỹ lựïc lưỡng, ba tay này gục trên bàn rượu trong khi cậu vẫn còn tỉnh như sáo. Cứ như thế tiệc rượu của bốn người kéo liền một mạch cho đến tận trưa. Tất cả đều say khướt, có lẽ chỉ trừ bố tôi. Chú Sáu và chú Huyền Kiêu rót rượu đầy tràn cả ra ngoài miệng chén. Bố tôi giằng lấy chai rượu đem giấu vào góc tủ, nói:
- Thôi đấy nhé! Hết rượu rồi. Không ai được uống nữa.
Rồi bố tôi kêu nóng. Ông cởi phăng áo ngoài. Mình trần, quần cộc, bố tôi chạy ra sân, nhẩy tùm xuống Hồ Tây bơi ào ào. Khi cách bờ khoảng dăm chục thước ông lớn tiếng nói vọng lên:
- Các tửu đồ! Có hứng thử nhẩy xuống hồ này vùng vẫy chơi cho mát!
Chú Đinh Hùng cũng thoát y mặc xì-líp nhẩy xuống hồ bơi lóp ngóp dưới nước. Bố tôi vung tay vẫy và ngoài người bơi thật nhanh về phía chú. Còn cách nhau chừng dăm thước, bố tôi bảo chú Đinh Hùng:
- Tôi với anh bơi thi từ đây vào bờ, xem ai thắng.
Hai người ra sức thi đua liền. Biết là chú Đinh Hùng không bơi giỏi, lại sợ chú còn say, bố tôi bơi kèm sát chú để đề phòng bất trắc. Cả hai về gần tới bờ cùng một lúc. Nhưng bố tôi cố ý bơi thụt lại, nhường chú nửa sải tay.
Hai người khoác tay nhau bước lên bờ. Rồi bố tôi cúi xuống. Nước hồ chẩy trên chiếc lưng rộng của ông...
Chiếc lưng ướt nước...
Trí tôi thoáng hiện một kỷ niệm với bố tôi ở Đà Lạt.
Trời nóng. Mấy bố con tôi vừa vào rừng tìm lan và đang đứng phía dưới của ngọn thác Pongour, nơi có một chỗ nước suối khét sâu làm thành một cái vũng lặng. Bố tôi ngồi xuống cát, tháo đôi giầy rồi đứng lên cởi áo sơ mi lột áo lót. Ông cúi xuống vén hai ống quần tây lên tận bẹn, quay sang tôi nói:
- Trời nóng quá! Chỗ này nước lặng con có thể tắm được.
Tôi ngần ngại. Trên người tôi mặc độc chiếc quần cộc và áo ngắn tay. Không có cả xì-líp. Năm đó tôi 16 tuổi. Tôi đã qua từ lâu cái tuổi tắm truồng. Bố tôi biết ý nói:
- Con cứ mặc quần mà tắm. Trời này thì quần ướt sẽ khô ngay ấy mà!
Tôi cởi áo đi theo bố tôi lội xuống nước. Bố tôi không bơi mà chỉ dầm chân xuống suối ngang đầu gối. Ông cúi xuống hai tay vốc nước suối dấp lên mặt, lên vai, lên lưng. Trước khi nhẩy tùm xuống bơi tôi thoáng thấy trên cái chiếc lưng ướt của bố tôi một cục bướu tròn to bằng cái trứng chim cút nằm ngay giữa xương sống.
Chỉ một thoáng thôi nhưng hình ảnh cái cục bướu ấy cứ lấn cấn mãi trong trí tôi cho tới tận ngày nay. Bố có cục u từ hồi nào? Liệu chú Đinh Hùng có nhìn thấy nó khi ông bơi với bố ở hồ Tây? Bố trăn trở ra sao mỗi khi nằm ngửa. Bố có khó chịu không? Vào khoảng đầu thập niên 60 ở Sài Gòn có phong trào các cô gái mặc áo cánh mà khuy cài lại ở phía sau lưng. Bố tôi thấy chị Thoa tôi mặc áo đó thì bình phẩm: Mặc áo đó thì khó chịu chết, mấy cái khuy cứ cấn sau lưng sao mà ngủ được?. Thế còn cái bướu của bố nó to và cộm hơn mấy cái khuy áo nhiều, thì sao?
Một tiếng động sột soạt ở phía sau lưng khiến tôi ngoảnh ra sau nhìn. Từ trong một bụi chuối bước ra một cụ già quần áo nâu, râu tóc bạc phơ nhưng người trông cứng cáp khỏe mạnh. Thấy tôi cụ trố mắt nhìn. Cái nhìn nghi hoặc làm tôi lúng túng. Rõ ràng là tôi vừa bị bắt quả tang đang toan tính chuyện gì mờ ám. Một người lạ đến khu này mà không vào đình, lại lén lút chui vô cái xó kẹt này nhìn chăm chăm vào căn nhà bên cạnh thì quả là rất khả nghi.
Tôi mỉm một nụ cười gượng tiến lại phía cụ già lễ phép hỏi:
- Thưa cụ, cụ có phải cụ Từ trông nom đình Yên Phụ không ạ?
Ông cụ nhướng đôi mắt.
- Phải. Chính tôi. Ông muốn gì?
Tôi phân trần:
- Thưa cụ cháu định vào tham quan đình nhưng cháu nhìn mãi chẳng thấy một ai cả, cháu bèn ra hồ để ngắm cảnh.
Thấy cụ già hết nhìn tôi lại nhìn căn nhà bên kia lưới sắt, vẻ nghi ngờ, tôi nói thêm:
- Chẳng nói dấu gì cụ... cháu từ ở nước ngoài về. Trước đây hồi cháu còn bé, dễ cũng đã sáu mươi năm rồi, chúng cháu có ở căn nhà này. Vâng đúng là nhà này vì cháu nhớ nhà cháu sát cạnh đình Yên Phụ. Cháu bèn mạn phép tự tiện mò vào đây chỉ cốt là để nhìn lại căn nhà cũ của cháu, chứ thực tình không có ý gì khác. Nhưng cháu chẳng nhận ra được nhà cháu ngày xưa. Họ phá ra xây lại hết rồi. Cháu nhớ là ở chỗ cây cau kia kìa trước kia có một cây liễu...
Nói đến đây tôi thấy đôi mắt cụ Từ dịu xuống. Cụ nói:
- Cậu nhớ thế là đúng rồi. Cây liễu đó ai chặt mất từ lâu lắm. Ở đây không còn một ai nhớ ra là chỗ đó ngày xưa có cây liễu, ngoài tôi.
- Thưa cụ, như vậy cụ trông nom đình này đã lâu lắm. Chắc cụ biết trước kia nhà này là nhà tranh và nhà văn Thạch Lam đã từng sống trong nhà tranh đó.
- Ừ tôi biết chứ. Ông Thạch Lam tôi không được quen nhưng tôi biết ông Hoàn. Ông gì Hoàn nhỉ...? Tôi quên rồi. Hình như ông ta cũng có liên hệ với ông Thạch Lam.
- Thưa, chú Nguyễn Kim Hoàn là anh rể của chú Thạch Lam cháu...
Chúng tôi vừa nói chuyện vừa đi chậm về phía đình. Đi qua bụi chuối gần đến bên hông đình thì cụ Từ lại rẽ ngang dẫn tôi ngược lại phía hồ. Cụ nói:
- Chẳng mấy khi mà đình làng này được đón khách từ ở nước ngoài về. Cậu ra đây một lát uống với chúng tôi chén nước.
Chúng tôi vào một lối mòn xuyên giữa bụi chuối. Qua mấy chậu cây cảnh thì đến lại cái bờ xi-măng cong vòng lúc nẫy. Nhưng khúc bờ xi-măng này nhìn ra phía khác của hồ. Từ chỗ này không thấy nhà cây liễu, nhưng thấy được mái chùa Trấn Quốc ló ở tít xa.
Một hàng dừa cao phủ bóng mát trồng dọc theo bờ xi-măng. Dưới bóng cây mấy người đàn ông ngồi ngắm cảnh hồ trên những chiếc ghế nhựa thấp, trước một cái bàn con có để một ống điếu cầy, một bình nước trà và mấy cái chén.
Cụ Từ chỉ tôi ngồi trên ghế rồi giới thiệu tôi với mọi người. Tất cả những người này đều đứng tuổi. Khi được biết tôi là cháu ruột của nhà văn Thạch Lam, một người lên tiếng bình phẩm:
- Thạch Lam à? Đệ nhất văn sĩ đấy! Văn thế mới đích thật là văn! Trước sau không một ai có thể viết được như Thạch Lam. Tôi dám cam đoan thế...
Với một vẻ trân trọng đặc biệt ông ta tiếp tục nói về Thạch Lam và những nhà văn khác thời đó. Giọng nói có xen lẫn chút u hoài như thể các nhà văn ông vừa nhắc tới khiến ông nhớ lại một thời tuổi trẻ của mình.
Câu chuyện xoay quanh vấn đề văn chương và đặc biệt là văn chương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Tôi hơi ngạc nhiên nghe những vị này bàn về văn đoàn cũng như thành viên của văn đoàn này với một sự hiểu biết khá chính xác, mặc dù Tự Lực Văn Đoàn là một đề tài cấm kỵ không được nhắc đến từ hơn một nửa thế kỷ. Trước đây tôi đã có dịp nói chuyện với vài người trong giới trẻ Hà Nội như mấy cô chú hướng dẫn viên các hãng du lịch hoặc các cô cậu sinh viên làm việc ở quầy tiếp tân các khách sạn, những người trẻ này có khả năng về ngoại ngữ rất cao, thể nói được nhuần nhuyễn cả hai thứ tiếng Anh, Pháp. Nhưng khi được hỏi về Tự Lực Văn Đoàn thì đa số trả lời là họ chỉ biết đến nhà văn Thạch Lam với truyện ngắn Hai Chị Em được dậy trong giáo trình giảng văn bậc trung học.
Rít một hơi thuốc lào một người khác ngửa cổ lên trời nhả khói rồi nói:
- Bây giờ người ta không biết viết văn... Cả một thế hệ không biết viết văn... Sách truyện bây giờ người ta in khối ra đấy mà chả có một cuốn nào viết ra hồn... Văn chả ra văn.
Tôi lên tiếng bênh vực:
- Bác nói thế có hơi quá không? Nhìn chung thì đúng như thế đấy, nhưng cũng có ngoại lệ chứ. Tôi đã đọc vài truyện tôi rất thích của một hai tác giả ở Hà Nội. Theo tôi họ viết cũng hay lắm.
- Ông nói thế là thế nào? Ông thử nêu tên vài cuốn tôi nghe thử? Làm sao họ có thế viết văn hay như những tiểu thuyết của nhóm Tự Lực Văn Đoàn được?
Tôi im lặng. Hơn bốn mươi năm trước hồi ở Sài Gòn đã có lần tôi nói tôi thích đọc văn của nhóm Sáng Tạo hơn đọc văn Tự Lực Văn Đoàn và khen nhóm này có nhiều tay viết rất cừ, mới chỉ nói thế thôi mà đã gây tranh luận trong đám bạn bè. Bây giờ nếu tôi mở miệng khen ngợi một hai nhà văn đương thời của Hà Nội với các vị mê say Tự Lực Văn Đoàn, xem văn của nhóm này như chuẩn đích cho cái hay của văn chương mọi thời thì chắc cũng lại chỉ gây tranh cãi vô ích.
Cụ Từ cúi xuống rót thêm nước chè vào chén của tôi. Từ lúc nẫy cụ yên lặng không tham dự vào câu chuyện văn chương. Cụ chắc đã trên tuổi bát tuần. Cái tuổi mà nếu các nhà văn bậc tiền bối còn sống hẳn là đã gọi cụ bằng hai tiếng thân mật chú em.
Tôi nhìn ra hồ Tây phía xa. Trong rặng cây xanh bên kia bờ nổi bật mái đỏ của hai gian nhà lớn hai từng. Thấy tôi nhìn phía bên kia hồ cụ Từ chỉ tay về phía ấy nói:
- Bên ấy là làng Thụy Khuê. Rặng cây xanh là vườn Bách Thảo. Hai cái nhà lớn mái đỏ kia là trường Bưởi.
- Thế hả cụ? Cháu cứ nghe mãi tên trường Bưởi bây giờ mới biết nó ở đấy đấy.
Trường Bưởi, cái tên rất thân quen. Chu Văn An ngàn đời treo gương sáng... anh tôi vẫn cất tiếng hát, bài hát của ngôi trường một thuở nào xa xôi anh đã từng in dấu.
Trường Bưởi, cùng với sóng nước hồ Tây, đã đi vào văn chương. Tôi mê đoạn văn sau đây, nhớ mãi. Có thật chăng một cuộc tình não nùng đã từng nẩy nở bên kia bờ nước, sau lùm cây, trên bãi cỏ, phía góc trường kia?
Hai mươi năm đã qua... Quanh hồ đủ thứ đã đổi thay, song thần thái của hồ vẫn là muôn thuở. Vẫn mênh mang thế, vẫn bình yên, thong dong, lãng đãng thế và say đắm thế. Với sương mờ ban mai. Với vừng ráng chiều tà. Với rặng núi xa. Kiên chưa lần nào vào lại sân trường xưa để vòng sau nhà bát giác tới lùm cây ấy, bãi cỏ ấy. Anh chỉ từ rất xa, mé đường Thanh Niên mà nhìn về góc trường đó, mặt hồ dường như ngước nhìn anh bằng đôi mắt lấp lánh màu nâu của Phương, với vẻ kỳ diệu và nỗi ngậm ngùi của tuổi thơ ấu, của tình yêu đã đi qua, đã xa vời vợi. Và những chiều ngồi bên hồ bao giờ anh cũng ngồi nán lại cho đến khi vừng ráng chỉ còn đọng lại một ngấn đỏ chạy ngang trời. Ấy là ánh hồi quang của cái đêm hai mươi năm trước, bên bờ hồ, sau lùm cây, trên bãi cỏ, phía góc trường...
Sóng hồ dập dềnh, ì oạp vỗ vào bờ cỏ. Xa xa, từ chỗ pháo đội cao xạ chốt nổi trên đám bèo neo sâu trong hồ một hồi kẻng khuya chậm rãi dóng lên. Vị thần bảo hộ cứu tinh cho sự trong trắng và trong sạch của đôi bạn, chẳng phải ai khác ngoài chính họ.
Gió thở dài. Im lặng lan xa. Hai người như thể vừa từ đáy nước nổi bồng lên để rồi bị cuốn dạt ra mỗi ngả... (Bảo Ninh - Thân phận tình yêu).
Gió... không thở dài ở đây, bây giờ, mà lồng lộng thổi từ mặt hồ Tây mênh mang phía trước.
Ngày hôm qua tôi nói với Bảo Ninh ngồi đối diện tôi nơi một bàn tiệc:
- Tôi có đọc truyện Nỗi buồn chiến tranh của anh. Không khí truyện này rất lôi cuốn khiến tôi đọc mà muốn ngộp hơi. Đọc xong tôi hiểu vì sao anh bị giằng co trong sự lựa chọn giữa hai nhan truyện Nỗi buồn chiến tranhThân phận tình yêu. Tôi thích nhan đề sau hơn, có lẽ bởi vì tôi bị mê hoặc bởi những đoạn anh viết về những cuộc tình hơn là những đoạn anh viết về cuộc chiến, tôi thích style văn rất mới của anh, cái lãng mạn trong văn phong anh, không phải cái lãng mạn trữ tình êm đềm kiểu Tự Lực Văn Đoàn mà là thứ lãng mạn chua xót và đớn đau. Tôi cho rằng mình đã đọc một truyện rất hay về cuộc chiến tranh mà anh với tôi đã cùng trải qua và trực tiếp dự phần, từ hai phía đối nghịch.
Bên kia bàn Bảo Ninh, trẻ hơn tôi đúng một giáp, mái tóc đã điểm sương bồng lên bù xù, hàng râu quặp trên mép, nhận lời khen của tôi một cách trịnh trọng, hơi kiểu cách: anh nắm chặt hai bàn tay vào nhau để phía trước ngực khẽ cúi đầu nói nhỏ đa tạ!.
Trong lúc ăn Bảo Ninh luôn tay với chai rượu whiskey rót thêm vào cốc đưa lên miệng uống. Chả mấy chốc chai thứ hai đã được khui. Bàn tiệc có sáu bảy người. Một mình anh ta có lẽ đã tiêu thụ nguyên gần một chai rượu mạnh.
Ngồi bên trái tôi, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp yên lặng gắp đồ ăn, anh ăn nhỏ nhẹ không đụng tới một giọt rượu.
Bảo Ninh uống. Hết ly này đến ly khác. Mắt anh có một lúc rời tôi nhìn người ngồi cạnh tôi bên phải. Cặp mắt đã mờ say của anh ánh lên một tia nhìn dịu và đằm thắm, hẳn cũng là cái nhìn của nhân vật Kiên với những người nữ trong Nỗi buồn chiến tranh của anh.
Bên cạnh tôi là Đỗ Hoàng Diệu một nhà văn nữ rất trẻ, tác giả một quyển truyện nổi tiếng Bóng Đè.
Tiệc tàn. Tôi hơi say. Cả bàn có lẽ chỉ có hai người không đụng tới rượu là Nguyễn Huy Thiệp và Đỗ Hoàng Diệu.
Nguyễn Huy Thiệp quay qua tôi hỏi:
- Để tôi chở anh về. Anh có bận gì không?
- Không.
Anh ghé nói nhỏ vào tai tôi:
- Nhà anh Tô Hoài rất gần đây. Mình ghé thăm anh một lát rồi tôi chở anh về nhà tôi chơi...
Nơi mé hồ gần bờ hướng chùa Trấn Quốc có một người đang bơi, cái đầu chồi ngụp trên mặt sóng. Hình ảnh bố tôi bơi với chú Đinh Hùng lại thoáng trong trí.
Bố tôi đã ra đi bốn mươi ba năm trước... như con bướm trắng bay đi không trở lại. Nếu còn sống thì hôm nay là sinh nhật thứ 100 chúng tôi đã thắp một trăm ngọn nến trên chiếc bánh sinh nhật của ông.
Tôi đứng dậy nhìn đồng hồ tay. Nhớ tới cái hẹn tại nhà anh Nguyễn Huệ Chi tôi nói với cụ Từ xin kiếu về.
Bước ra khỏi đình Yên Phụ tôi ngoái nhìn phía trước căn nhà cây liễu một lần cuối rồi đi rẽ về phía cổng làng.
Mặc dù không dặn nhưng khi bước qua khỏi cổng làng tôi đã thấy bác lái xe ôm ban sáng ngồi chờ tôi dưới một gốc cây. Thấy tôi bác lật đật đứng lên vứt điếu thuốc xuống lề đường. Lúc nẫy tôi đã định bụng không về ngay khách sạn mà tản bộ một lát trên đường Cổ Ngư, nhưng thấy bác ta chờ từ sáng tội nghiệp, tôi đổi ý và để bác ta chở về.
Ngồi sau lưng bác tài trên chiếc xe hai bánh chạy ngược trên đường Thanh Niên tôi nhớ ngày hôm qua tôi ôm eo Nguyễn Huy Thiệp trên chiếc xe gắn máy của anh ta và hình như cũng chạy qua con đường này. Không có ý niệm về đường phố ở Hà Nội tôi không biết anh Thiệp đã chở tôi đi những đâu, qua những con phố nào, chỉ biết là anh chở tôi đi xa lắm tôi ngồi lâu trên xe ê cả mông đít.
Từ nhà hàng ăn chúng tôi đến thăm nhà văn lão thành Tô Hoài, tác giả của tập truyện Dế mèn phiêu lưu ký tôi đã mê say đọc từ hồi còn nhỏ. Anh Thiệp sau đó chở tôi đến phố Hàng Trống thăm một xưởng tranh hình như là của người con anh. Chiều đến anh chở tôi về nhà anh ở vùng ngoại thành Hà Nội rất xa khu trung tâm thành phố. Khi chiếc xe rời con đường chính vào một con ngõ tôi đinh ninh sắp đến nhà anh. Nhưng không. Xe còn đi lâu lắm rẽ qua không biết bao nhiêu con ngõ rắc rối rồi cuối cùng mới dừng lại trước căn nhà có bờ tường rêu bao quanh và có cổng gỗ kiến trúc giống như cổng một mái chùa hay một ngôi đình làng.
Nguyễn Huy Thiệp tắt máy xuống xe tra chìa vào ổ khóa đẩy hai cái cánh cửa gỗ nặng nề dắt xe qua cổng. Bên trong mở ra một thế giới khác hẳn bên ngoài. Một khu tuy nằm trong lòng Hà Nội nhưng biệt lập yên tịnh và đặc biệt là rất đồng quê. Qua bóng rợp của một khu vườn cây rộng, toàn cây ăn trái, nào nhãn, nào ổi, nào khế... cây nào cây nấy nặng trĩu những quả, một con đường lát gạch dẫn tôi tới căn nhà hai từng nằm ẩn sau vườn, nơi mà Không có vua, Tướng về hưu... cùng những tác phẩm khác của anh được thai nghén và sáng tác.
Tối đó anh Thiệp mời tôi dùng cơm tại nhà anh. Tôi nhớ mãi bữa cơm rau ấy vì đã từ lâu lắm rồi tôi không được ăn một bữa cơm rất thanh đạm nhưng đầy mùi vị quê hương. Về khuya anh đưa tôi ra đầu ngõ đón xe về khách sạn. Anh nói trước khi chia tay:
- Văn chương nó bạc lắm anh ạ. Phần thưởng quí nhất có lẽ là qua nó chúng ta có được những người bạn mới ở khắp bốn phương.
*
Tôi cúi xuống mở cái ba-lô tôi để dưới chân ghế lấy ra quyển hồi ký Nhất Linh, cha tôi tôi mới xuất bản ở Mỹ. Tôi mở trang đầu cuốn sách viết lời đề tặng chủ nhà.
Có tiếng động và tiếng người nói ở nhà dưới. Lát sau mọi người lần lượt lên cầu thang ngồi trên hai dẫy ghế hai bên bàn. Có hai vị khách được chủ nhà hướng dẫn ngồi ghế phía trước cạnh tôi. Tất cả khoảng hơn mười người.
Chủ nhà, giáo sư Nguyễn Huệ Chị, trưởng ban văn học Việt Nam Cổ cận đại viện văn học Hà Nội, cũng là chủ biên của tập Từ Điển Văn Học, giới thiệu những người hiện diện. Trừ vài người tôi đã nghe danh tánh như giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, giáo sư Phan Đình Diệu, hai vị ngồi cạnh tôi, và một người ngồi phía dưới là đạo diễn Trần Văn Thủy, những người khác tôi mới nghe tên lần đầu.
Nghe anh Huệ Chi giới thiệu những người đó với toàn chức vị tiến sĩ tôi nói đùa với anh:
- Mặc dù Hà Nội đang giữa mùa Hạ anh cũng làm tôi rét đấy! Tôi chưa từng bao giờ được diện kiến với nhiều vị tiến sĩ như vậy trong đời...
Vài nụ cười nhẹ thoáng trên môi của mấy vị khách phái nữ.
Câu nói đùa của tôi không phá được bầu không khí khá trịnh trọng lúc ấy. Trong một lát tôi ngỡ ngàng. Tôi hoàn toàn không chuẩn bị để đối diện với cái không khí này.
Vị trí ngồi của tôi ở đầu bàn cho thấy hậu ý của chủ nhà muốn tôi là người nói chuyện và có lẽ là người duy nhất phát biểu trong buổi kỷ niệm này với đề tài được mọi người trông chờ là nói về ông cụ.
Tôi biết nói gì đây, ở một nơi mà chỉ nội nhắc đến cái tên ông cụ không thôi đã là một điều rất cấm kỵ?
Tôi mở đầu nói về tiểu sử và các hoạt động văn hóa của ông cụ. Tôi nói vắn tắt vì biết rằng hầu hết những người trong phòng này là những học giả uyên bác, họ đã nghiên cứu tác giả Nhất Linh rất kỹ và chắc hẳn là tường tận hơn tôi.
Còn về con người thứ hai của ông cụ, con người chính trị và cách mạng Nguyễn Tường Tam, thì đây mới thực sự là điểm nóng. Nhưng nơi này lại không phải là một chỗ thích hợp để nói tới và luận bàn.
Tôi với tay lấy cuốn hồi ký của tôi trên bàn và đọc nguyên một đoạn dài trong bài Nói chuyện với Huy Cận. Bài viết đó tôi tường thuật buổi gặp gỡ giữa anh em chúng tôi với thi sĩ Huy Cận vào mùa Hạ năm 2001, bốn năm trước khi thi sĩ qua đời. Trong buổi nói chuyện ấy chúng tôi đã có một lúc tranh luận khá gay gắt khi Huy Cận bắt đầu nói về chính trị, đặc biệt khi ông tựï dành quyền phán xét hành động chính trị của bố tôi, điều mà bố tôi không muốn: bố tôi tự chết chỉ quyết là không để ai được quyền phán xét ông, ngoài lịch sử.
Buổi nói chuyện trong đó tôi là người duy nhất lên tiếng chấm dứt trong im lặng. Không một tiếng nói thứ hai, không một lời bình luận. Sự yên lặng bao trùm khiến tôi liên tưởng đến thái độ của những người trí thức trong nước mà tôi đã có dịp tiếp xúc: họ nhã nhặn, lịch sự nhưng dè dặt.
Sau đó chủ nhà đứng lên chuyển lại lời mời của tôi với tất cả mọi người hiện diện đến dự buổi cơm trưa tại một nhà hàng do anh ấy lựa chọn. Rồi anh chuyển quanh bàn cuốn Từ Điển Văn Học để tất cả cùng ký tên trên trang sách anh đã viết sẵn lời đề tặng chúng tôi.
Sau khi chụp hình lưu niệm mọi người lần lượt bước xuống cầu thang. Anh Huệ Chi bảo tôi:
- Anh cứ ở trên này một lát để tôi xuống trước thu xếp xe.
Tôi hỏi anh:
- Anh đã chọn được quán ăn nào chưa?
- Rồi. Quán ngon.
Tôi hỏi lại:
- Quán gì?
- Quán Ngon.
- Chà, cái tên lạ nhỉ...
Anh mỉm cười bước xuống cầu thang.
Tôi ngồi xuống ghế lật trang đầu cuốn Từ Điển.
Bên dưới chữ ký của anh Nguyễn Huệ Chi có thêm chữ ký của các vị sau đây: Phan Đình Diệu, Trần Văn Thủy, Phạm Ngọc Lan, Đặng Thị Hảo, Nguyễn Bá Dũng, Phạm Thu Hương, Trương Hồng Quang, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Văn Bình.
Phía dưới nữa là một hàng chữ lớn viết tay và chữ ký của người viết:

Với cả tấm lòng quý trọng đại văn hào Nhất Linh.
Hoàng Ngọc Hiến
Nguyễn Tường Thiết
Con nhìn thấu và rồi con sẽ ngộ,
Người con yêu và nguời đã yêu con...
Người dâng con với tất cả lòng son,
Tâm kiên định chẳng bao giờ thay đổi !

Con vội vã và rồi con lạc lối,
Ngỡ như mình tìm được chốn thần tiên....
Trong bóng đêm ba ngọn nến lung linh,
Cây trước mắt vẫn là cây sáng nhất !!
NM

 
Hình ảnh có liên quan

Ngon nến sáng nhất - Lời phật dạy về tình yêu

Khi hiểu rõ một vấn đề, chính ta sẽ nghiệm ra đâu là điều đúng nhất. Phật chỉ là người dẫn đường giúp ta nhìn ra chân lý ấy. Có một câu chuyện về tình yêu của người chồng, ngọn nến nào sáng nhất trong mắt anh ta.
Ngon nến sáng nhất - Lời phật dạy về tình yêu
Tối nọ, có một người đàn ông tìm tới một ngôi chùa để nhờ Đức Phật chỉ dạy cho anh về chuyện tình yêu.
- Thưa Đức Phật anh minh, con là một người đã có vợ, con đang yêu say đắm một người đàn bà khác, con thật không biết nên làm thế nào?

- Con có thể xác định người đàn bà con đang yêu hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con không? - Đức Phật đáp lại.

- Thưa vâng.

- Con ly hôn, sau đó lấy cô ấy?

- Nhưng vợ con hiện nay dịu dàng, lương thiện, thảo hiền. Con bỏ cô ấy liệu có phần tàn nhẫn không, có mất đạo đức không, thưa Đức Phật?

- Trong hôn nhân không có tình yêu mới là tàn nhẫn và mất đạo đức. Con hiện giờ đã yêu người khác, không yêu vợ nữa. Con làm như thế là đúng.

- Nhưng vợ con vẫn rất yêu con, quả thật yêu con lắm, thưa Đức Phật.

- Vậy thì vợ con hạnh phúc.

- Sau khi con chia tay vợ để lấy người khác, vợ con sẽ rất đau khổ, tại sao lại hạnh phúc, thưa Đức Phật?

- Trong hôn nhân, vợ con vẫn có tình yêu đối với con, còn con đã mất đi một tình yêu đối với vợ con. Bởi vì con đã yêu người khác, chính vì có hạnh phúc, mất đi mới đau khổ, cho nên người đau khổ là con.

- Nhưng con cắt đứt vợ, sau đó cưới người khác, vậy là cô ấy đã mất con, cô ấy mãi là người đau khổ.

- Con nhầm rồi, con chỉ là người vợ con yêu thật sự trong hôn nhân. Khi một người như con không tồn tại, thì tình yêu thật sự của vợ con sẽ tiếp nối sang một người khác. Bởi tình yêu thực sự của vợ con trong hôn nhân xưa nay chưa từng mất, cho nên vợ con mới là người hạnh phúc, con mới là người đau khổ.

- Vợ con từng nói kiếp này chỉ yêu mình con thôi. Cô ấy sẽ không yêu ai khác.

- Con cũng từng nói thế phải không?

- Con…con…con…

- Bây giờ con nhìn ba ngọn nến trong lư hương trước mặt, xem ngọn nào sáng nhất?

- Quả thật con không biết, hình như đều sáng giống nhau.

- Ba ngọn nến ví như ba người đàn bà. Một ngọn trong đó là người đàn bà hiện giờ con đang yêu. Đông đảo chúng sinh, đàn bà đâu chỉ là mười triệu trăm triệu… Ngay đến một trong ba ngọn nến, ngọn nào sáng nhất con cũng không biết, cũng không tìm được người con hiện đang yêu, thì làm sao con xác định được người đàn bà hiện nay là người đàn bà cuối cùng và duy nhất trong cuộc đời con?

- Con…con…con…

- Bây giờ con cầm một cây nến đặt trước mắt để tâm nhìn xem ngọn nào sáng nhất?

- Đương nhiên ngọn trước mặt sáng nhất.

- Bây giờ con đặt nó vào chỗ cũ, lại xem xem ngọn nào sáng nhất.

- Quả thật con vẫn không nhìn ra ngọn nào sáng nhất.

- Thật ra cây nến con vừa cầm giống như người đàn bà cuối cùng con đang yêu hiện nay, tình yêu nảy sinh từ trái tim, khi con cảm thấy yêu nó, để tâm ngắm nghía, con sẽ thấy nó sáng nhất. Khi con để nó vào chỗ cũ, con lại không tìm được một chút cảm giác sáng nhất. Thứ gọi là tình yêu cuối cùng và duy nhất của con chỉ là "hoa trong gương, trăng dưới nước", suy cho cùng chỉ là con số không, một cuộc tình trống rỗng.

- Con hiểu rồi, không phải Đức phật bảo con phải ly hôn vội vã, Đức Phật đang niệm chú làm cho con ngộ đạo.

- Nhìn thấu sẽ không nói trắng ra, con đi đi!


- Bây giờ con đã biết thật sự con yêu ai, người đó chính là vợ con hiện nay, thưa Đức Phật.
CXG
Hình ảnh có liên quan

HÒA TẤU GUITAR VÔ THƯỜNG 

Những Cây Nến... “Đen”
Cuối cùng thì ông cũng “”được” về hưu như người ta, đóng lại 40 năm ròng rã mệt nhoài trong công xưởng, hối hả đi về theo những chuyến xe tất bật ngược xuôi dòng đời.
Kết quả của 40 năm bươn chải, con cái thành tài có gia đình cơ ngơi riêng, nỗi lo toan cơm áo gạo tiền kết thúc, khoẻ ru! Bổng lộc hưu trí tích lũy ngần ấy năm thư thả cho những ngày còn lại của 2 ông bà, không phải nhờ con cháu, nhẹ gánh rồi!
Thời giờ xin dành hết thời gian cho bà, người vợ đầu gối tay ấp chung thủy nghĩa tình bao năm vất vả quán xuyến trong ngoài cho đại gia đình này.
Một chuyến du lịch hải hành trọn gói dài ngày bên Âu Châu, ước mơ thầm kín của bà từ lúc còn tóc xanh, có một ngày thật gần sẽ trở thành hiện thực. Viễn ảnh đẹp đẽ của những bờ biển trong veo trải dài cát trắng, núi non thiên nhiên hùng vĩ, những con đường thơ mộng trong công viên của thành phố hoa lệ… chỉ được nghe ca tụng, giờ nằm trong tầm tay với, ông cảm thấy hài lòng với món quà hấp hôn đầy ý tình, thi vị sẽ gây cho bà nhiều ngạc nhiên thích thú lắm đây! Vui!
Mùa Giáng Sinh sắp tới, kéo dài bắc cầu sang đến ngày lễ nghỉ mừng Năm Mới, ông lại nôn nao mong chóng gặp lại gia đình các con, chúng nó tất cả hẹn nhau tụ tập về đây, một công đôi chuyện, vừa hưởng ngày nhàn nhã lễ hội vừa dự tiệc họp mặt đại gia đình sau bao năm hẹn mà trớt quớt vì công tác bất ngờ hay có chuyện bận rộn bên vợ hay bên chồng thình lình của đứa này, đứa kia…
Còn đám cháu nhỏ, nghĩ đến là rộn rã ùa tràn lòng, tính khí năng động con nít sẽ khuấy động không khí vốn trống vắng từ lâu trong căn nhà này, nhớ tiếng cười, tiếng vòi vĩnh dễ thương của chúng quá thể!
Bà cũng như ông, ra vào cứ giở hoài tờ lịch, tẩn mẩn đếm đi đếm lại số ngày xuống dần sẽ đoàn viên cả nhà, rồi lại lui cui ghi chép thêm vào sổ tay thật kỹ càng những thứ bất chợt nảy sinh trong việc chuẩn bị những bữa cơm thân mật đông đủ gia đình với món ruột của tụi nhỏ, kể ra thôi cũng đã thèm cho kẻ mê ăn, này nhé… món bánh xèo Nam quyện nước dừa béo ngậy đổ chảo nóng giòn rụm, món bún thang Bắc đậm đà mắm tôm, bún bò giò heo Trung cay xé lưỡi, dặm thêm món bột lọc tôm chấy nồng đượm, món phở đặc trưng với mùi ngò gai rau quế thân thuộc v…v ngoài ra những món ăn vặt, ăn chính kiểu Tây Mỹ cho đám cháu không thể nào thiếu trong thực đơn. Bấy nhiêu cũng đủ chiếm trọn thời giờ của bà nội trợ đảm đang.
Việc dọn dẹp trang hoàng nhà cửa, giao hẳn cho ông, coi như đã gần xong, cây thông dựng lên chỉ thiếu mấy trái cầu thủy tinh đủ sắc để tăng phần lộng lẫy bên cạnh những giây đèn hoa giăng rực rỡ, chiếm cứ một diện tích không nhỏ nơi góc nhà, và dự định sẽ để lâu qua hết tuần đầu của năm mới. Lễ lớn mà!
Ngày vui gần kề, thương bà quá! hẳn vì sự chộn rộn lo lắng, trông chờ nên giấc ngủ xáo trộn sinh bần thần, sớm ra lại lăng xăng việc nhà viêc chợ, nên khó tránh dạo này hay quên thứ này không nhớ thứ nọ, vì thế ông cũng bở hơi tai khi kiêm thêm nhiệm vụ sai vặt liên tu bất tận của bà.
Rồi một sáng, nét phờ phạc mệt mỏi của bà hiện rõ. Ông phải lên tiếng khuyên bà ngừng công việc, nghỉ ngơi ngay, cứ thủng thỉnh mà làm có thi đua chi đâu mà vội, chứ điệu này khi con cháu về, bà đổ bệnh thì mất vui, nhưng Bà chỉ ậm ừ, rồi bỏ ngoài tai, dễ giận không chứ?
Ông nói đâu có sai! để rồi một tối, chuyện lớn xảy ra.
Ông về nhà, cửa ngõ không khoá, phòng khách tối om, thất kinh hơn cả khi thấy bà nằm sóng soài trên nền gạch lạnh từ hồi nào.
Tiếng xe cấp cứu rú lên liên hồi trên đường đưa bà vào bệnh viện, lần đầu tiên, cảm giác không an bình, lo sợ mông lung làm bấn loạn cả ruột gan ông khiến bơ phờ cả mặt mũi, ông cứ nhẩm khấn khứa như bà đã từng, khi có tình huống gì nghiêm trọng, khó trấn tĩnh được.
Bao ngày bà nằm lại nhà thương để chờ kết quả định bệnh, là bấy ngày ông tất tả tới lui bệnh viện. Không ngờ cú té ngã mà sinh chuyện to thế, cứ tưởng là bà mệt do thiếu ngủ, trễ ăn bỏ bữa gây tụt huyết áp hay thiếu máu chi đó, chỉ cần khám cho thuốc rồi về tịnh dưỡng, chứ biết đâu…
Nhìn bà không khoẻ trên giưòng bệnh, ống nước biển truyền lủng lẳng trên đầu giường, cái kim to, dấu mình dưới mảnh băng keo dán, rúc vào mạch máu tay nổi bầm tím thịt da làm ông cũng thấy như thân mình cũng bị châm, đau cách gì!
Mấy bữa không ăn uống, gương mặt bà hốc hác xanh xao trông rõ. Ông có tốt hơn gì bà, sáng tối túc trực bên giường bệnh, thân già như củi mục ủ rũ. Bao tử của ông chỉ một khoảng thời gian ngắn thiếu bàn tay bà chăm sóc cơm nước nên tóp teo hẳn lại, reo báo động suốt, dáng đi hết còn mạnh mẽ, da dẻ bớt tươi, bề ngoài bạc nhược, nhìn ông chán nản thì thôi!
Coi bộ bà chẳng nhớ chút gì chuyện té xỉu ở nhà mỗi khi hỏi đến, bà ngơ ngác trả lời không đâu vào đâu, lơ mơ đầu óc… ông bất giác sợ tái người khi nghĩ bà có phải phát bệnh lú lẫn “ăng dai mơ” rồi chăng? hay khi té, nói dại, đập đầu xuống nền nhà, chạm dây thần kinh nào nên mới ra cớ sự.
Thế nhưng khi ngoài cửa sổ, những sợi tuyết bám đặc kín vào mặt kính như tấm màn bông, vọng tiếng nhạc lễ hội vui tươi phát ra khe khẽ từ radio của người nuôi bệnh cạnh bên lén mang vào cho người thân nghe bớt nhớ nhà, thì như có phép lạ khiến ký ức tưởng đã ngủ quên đâu đó trong bà bỗng trỗi dậy, đánh thức mách bảo trái tim của người mẹ thương con, tấm lòng yêu cháu của người bà ngoại, bà nội như bà, phút chốc giác quan trở nên mẫn tiệp, năng lượng đầy đủ tiếp sức cho tỉnh táo đầu óc, thấp thỏm câu hỏi thăm ông mọi sự vật sự việc, đề cập công chuyện nhà, nhắc chừng ông đừng báo vội cái tin không hay, tuị nó lo, đằng nào… con cháu cũng sắp về rồi, chậm biết càng tốt.
Không biết ông trấn an bà hay là tự nhủ lấy mình hãy lo cho sức khoẻ trước đi… mọi việc khác không quan trọng nữa, gác hết qua bên. Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, thấm thía quá!
Ừ! đúng là cận ngày lễ Giáng sinh, nhưng sao chẳng còn những háo hức đón chờ khi thấy tình trạng của bà bây giờ. Ông nghe như tiếng thở dài của ai đó kéo theo tiếng chặc lưỡi ảo não giữa cái không khí đầy mùi thuốc của nhà thương, buồn thêm… lại buồn!
Ông bước thấp bước cao ra khỏi cửa bệnh viện với đầu óc hỗn mang cùng cực, không tin vào chính tai mình sau khi nghe bác sĩ chuyên khoa thần kinh chẩn đoán và thông báo cái hung tin đến điên đảo đất trời, bà phải nằm lâu trong nhà thương để chờ ngày lên lịch mổ… chỉ lấy ra… một phần… cái bướu trong não. Ác thay! là một bướu… độc, đang phát triển rất nhanh.
Số mệnh tàn nhẫn vậy sao? Trong cùng cực bi quan, ông quên hẳn rằng tấm thân tứ đại con người vốn phải chiụ sự chi phối của vòng sinh bệnh lão tử, và mọi sự trên cõi gian này chỉ là ngắn ngủi, tạm thời, nhưng nhất thời cú sốc thình lình, không chịu nổi, cảm xúc dằn vặt đau đớn cứ thế mỗi lúc dâng từng hồi trong lòng ông với tiếng kêu tuyệt vọng. Bệnh của bà… bất trị!
Mai này… không có bà, đời ông còn gì là hạnh phúc nữa, biết sống sao đây? Trời ơi! đau quá, đau nát tim, xé lòng, hô hấp cứ như thắt lại, không hít thở nổi, tưởng như nỗi tê dại gậm nhấm trong từng mạch chảy làm đông cứng toàn thân ông, muốn té quỵ!
Sắc sẫm hoàng hôn kéo dần chụp úp cảnh vật mọi nẻo đường. Bóng ông đổ dài lê thê với bước chân nặng chịch in rõ trên nền tuyết trắng xóa rã rượi mênh mang. Gió u u vô tình thổi buốt đến đỉnh đầu không nón, tràn xuống cổ không quấn khăn, ghim vào ngón tay xương xẩu già nua như nhánh khô thời gian, vạn vật theo ông rùng cả mình. Lạnh điếng!
Bước vào nhà, căn phòng tối om như hôm bà té, lạnh lẽo không có chút sưởi nhiệt, sinh khí.
Tắt điện! ông run rẩy mò mẫm vào bếp tìm cây nến bằng ánh sáng lập loè chờn vờn như ma trơi của chiếc bật quẹt gas.
Mở chiếc ngăn kéo tủ bếp, mắt ông nhìn trừng trừng như chết sững khi tay lôi ra những cây nến nhỏ, chắc được bà trữ sẵn dùng để thắp bánh trong dịp sắp tới, chúng đồng bộ hầu như đã bị cắt ngắn chỉ còn non phân nửa thân, thành những cây nến tí hon thấp lè tè, kỳ dị! Có phải chủ nhân muốn kết thúc thật nhanh đến tận cùng thời gian cháy nến hay vì tiết kiệm muốn tăng số lượng nến lên gấp đôi? Hoàn toàn không phải vậy bạn ạ! nến rẻ rề cơ mà! Ông liên tưởng ngay đến lời của bác sĩ đọc hồ sơ bệnh lý của bà, cái bướu phát triển đè lên giây thần kinh thị giác.
Thì ra chính sự ảnh hưởng của cái bướu, hình ảnh mọi sự vật xung quanh bị thu hẹp hẳn lại khác thường trong tầm nhìn của bà, không gian chỉ còn lờ mờ thấp nhỏ trong khung tranh tối tranh sáng, nửa chừng nửa vời. Bà không biết nan bệnh đã phát, tưởng cơ thể mình bị nóng, hỏa xông, hoa mắt, nhất thời không tỏ, cũng không nói ra sợ chồng con bận tâm, tự nghĩ cách đơn giản là cắt ngắn bớt thân nến đi là có thể thấy trọn vẹn ánh sáng thắp lên từ ngọn của nửa cây nến. Trời ơi! tội nghiệp làm sao!
Ôi! Những ngọn nến… “đen”… sẽ chẳng có cơ hội được thắp lên nữa. Quỹ thời gian của chủ nhân chúng đã dần cạn kiệt đến nơi.
Ông ngồi bệt dí xuống đất, chiếc bật lửa theo cơn gió chạm tắt ngúm trong đôi bàn tay run như cầy sấy.
Nước mắt tưởng rất hiếm trên gương mặt của đàn ông, nếu có thì cũng phải gan góc ghìm chặt vào lòng, ông vẫn từng tự hào thế, bây giờ thì sao? chẳng có gì có thể kìm hãm nó được, cũng chẳng còn gì mà giữ kẽ với ai nữa.
Ông mặc cho nước mắt, nước mũi, tự do thả tuôn như suối cuồng bão nổi đẫm ướt trên những cây nến …đen… cụt đầu. Ông ôm mặt nấc lên từng hồi rưng rức, tức tưởi như đứa trẻ ngoan bỗng nhiên vô cớ bị người tước mất trên tay vật yêu quý nhất đời mình. Thế là hết… mất… hết cả rồi!
Vô thường!
Hồng Thúy

Kết quả hình ảnh cho truyện ngắn minh vy

Khát Vọng

Hai ngọn nến cong
– Ngọn nến cũng có ngọn cong và ngọn thẳng, bạn suy nghĩ gì về câu nói này?
Đó là câu hỏi cho đêm chung kết cuộc thi “Vẻ đẹp vầng trăng khuyết” mà cô phải vượt qua. Trên sân khấu, cô đang mặc chiếc áo sơ mi màu trắng, điểm vài bông đỏ li ti, chiếc váy màu đem phủ qua đôi chân cong queo teo tóp được đặt ngay ngắn trên xe lăn. Đôi mắt cô nhìm đăm đắm xuống sân khấu, dường như cô chẳng còn thấy ai nữa vì ánh đèn chớp tắt không ngừng. Chiếc micro chuyền đến tay, hít một hơi thật dài, mắt rưng rưng theo niềm cảm xúc, cô trả lời câu hỏi của ban giám khảo như đang trả lời câu hỏi cho chính cuộc đời mình.
– Số phận đã khiến em trở thành một ngọn nến cong khi mang trong mình tật ở xương cột sống, rồi lại một lần nữa cướp đi đôi chân của em khiến em phải ngồi xe lăn vĩnh viễn, nghĩa là em phải hai lần cong.
Nói đến đây, đôi mắt cô đã ướt nhòe. Trước mắt cô, ký ức của một tuổi thơ dữ dội như vọng về, vang vang bên tai, trước mặt cô là một thước phim quay chậm, xoáy sâu vào…
o0o
Tuổi thơ của Ngọc là những năm tháng cô phải mang bên mình chiếc áo “Thạch cao” cho đến năm cô hai mươi tuổi. Có những buổi trưa hè ở lớp, cô thèm được xuống sân trường để cùng nhảy dây với các bạn, cùng chơi trò đuổi bắt…
Rồi đến cái tuổi mộng mơ trăng tròn cô chỉ biết lẳng lặng nhìn những mối tình của bạn bè trôi qua. Cô đã thầm yêu nhưng chẳng dám nói, ai mà tránh khỏi những giây phút xao lòng khi đứng trước ngưỡng cửa của tình yêu và khát vọng. Nhưng cứ mỗi lần muốn ngỏ lời với người ấy, Ngọc lại tủi thân cho chính mình, cái cột sống không cho cô là một cô gái bình thường để có thể ngỏ lời yêu, và nước mắt làm bạn và nỗi buồn là người yêu.
Ngọc nhận được tin đoàn chuyên gia người Pháp sang Việt Nam để làm phẫu thuật nắn xương chỉnh hình. Cô là một trong bảy người được chọn để làm phẫu thuật, niềm vui lại lấp lánh trong đôi mắt của ngọn nến 20.
Căn phòng bệnh viện trắng toát, mùi sát trùng cộng với mùi thuốc bốc lên. Mẹ cô ngồi bên cạnh, bàn tay bà nắm chặt tay cô. Ngọc mở mắt ra với một cơ thể mệt mỏi và giọng người mẹ run run.
– Mẹ xin lỗi! Mẹ không cho con được những năm tháng hạnh phúc trong cuộc đời.
Bác sĩ bảo trong bảy người được phẫu thuật, Ngọc là người kém may mắn nhất vì ca phẫu thuật không thành công. Bác sĩ cho biết cô sẽ phải ngồi xe lăn vĩnh viễn. Ngọc nhìn vào đôi mắt mẹ đã thâm đen vì những đêm thức trắng, cô hiểu có người mẹ nào lại không đau. Lay bàn tay của mẹ, nước mắt Ngọc chảy xuống, len qua thái dương rồi chui vào đôi tai của mẹ, nhưng để cố không làm mẹ đau thêm nữa cô siết chặt trong sức lực yếu ớt.
– Mẹ ơi! Con ổn mà.
o0o
–  Không ai muốn bất hạnh xảy ra với mình. Thế nhưng khi nó đến cũng không nên than trách hay đổ lỗi cho ai. Đứng lên để hạnh phúc và mang hạnh phúc cho người khác, là những suy nghĩ của em lúc này. Và ít nhất, em cũng đã mang hạnh phúc đến cho mẹ khi em vẫn còn là một ngọn nến, cho dù em có mấy lần cong đi nữa, em vẫn muốn cháy và cháy hết ngọn nến để dâng một ánh sáng ấm áp đến cho đời.
Sau câu trả lời ấy, tiếng vỗ tay vang cả khán phòng, vài người lấy tay giấu vội giọt nước mắt cảm động. Cô ghi điểm cao và đăng quang ngôi vị hoa khôi. Những đóa hoa lung linh được trao đến, cô mơ hồ nghĩ đến một hạnh phúc xa xôi.
o0o
Tuy Ngọc đoạt giải cao nhất trong cuộc thi, nhưng cũng ít người chú ý đến bởi đó là cuộc thi của những người khuyết tật. Cô thấy cái thứ ánh sáng của sự hào quang nó không lấp lánh như mình nghĩ. Trở về căn nhà cũ, vẫn là nỗi cô đơn dày vò. Ít ai hiểu được, trong cô cũng khao khát một tình yêu mãnh liệt. Dẫu sao thì những thành công kia không khỏa lấp được những nỗi niềm thầm kín cứ âm thầm cháy trong cô.
Lập một cái nickname là “Ngọn nến”, cô vào các diễn dàn cộng đồng để kết bạn, chọn cho mình ngành tâm lý học, cô cũng muốn tiếp xúc với nhiều người. Có lẽ, khi không thấy mặt nhau, con người ta dễ nói với nhau những điều thật lòng nhất. Gương mặt cô khá xinh, lại ăn ảnh nên không mấy khó khăn cho việc kết bạn ảo trên mạng. Vài lời tán tỉnh cũng làm cô thấy vui hơn, dù cô biết đó không phải là những lời thật lòng.
Nói chuyện qua lại được vài lần, có người ngỏ ý muốn gặp, có người vội vã, có người thì lơ lửng. Ngọc bắt đầu thấy chán cái kiểu bạn bè nhạt nhẽo trên mạng. Màn đêm buông xuống, phủ lấy thành phố một màu đen đặc. Đêm lấp lánh những vì sao như tô điểm cho tấm màn nhung những màu sắc, cô ngước lên trời thưởng thức không khí thoáng đãng, có lẽ cô đã sai khi cố tìm một tình yêu ảo.
Tình yêu không là thứ đồ vật để muốn đến thì đến, muốn tìm là có. Hai mươi ba tuổi, Ngọc chưa thật sự có một tình yêu đúng nghĩa, nhưng cô vẫn tin và vẫn chờ đợi, dẫu tình yêu có đến muộn màng một chút thì có sao đâu…
Từ ô cửa sổ nhìn vào khoảng đường mênh mông bóng tối, Ngọc thấy đêm như làm con người cô đơn hơn. Đồng hồ đã chỉ hai giờ sáng. Cô định tắt máy tính để chìm vào giấc ngủ thì giật mình khi thấy có một khung cửa sổ chat có cái nick là “Bóng đêm”. Khung hình hiển thị đã gửi cách đó hơn ba mươi phút, là ai mà có thể kiên nhẫn đến vậy nhỉ, cô mỉm cười, chợt có điều gì đó thú vị.
– Ngọn nến thức khuya vậy?
– Thức khuya để soi sáng những tâm hồn cô đơn như Bóng đêm!
– Vậy sao? Nếu nó là lỗ đen của vũ trụ, Nến có thể soi sáng được không?
– Còn tùy…
– Ngủ sớm đi, mai còn đi học Nến à. Thức đêm không tốt cho sức khỏe và sắc đẹp, hiểu không?
Có điều gì đó lạ lẫm, Ngọc chưa hề biết người đang chat với cô là ai mà sao lại quan tâm đến cô như thế. Nhìn những dòng chữ đang chat cứ như hai người đã hiểu nhau lắm. Và cũng từ đêm đó, những dòng chat qua lại, để khi tắt máy, cô lại thấy lâng lâng. Lẽ nào, tình yêu đơn giản vậy sao, vài lần Ngọc thắc mắc, người ngồi trong bóng tối là ai, vài lần chính cô là người muốn chủ động gặp nhưng rồi lại thôi.
– Nến à! Mình gặp nhau nhé!
– Nến nghĩ, có lẽ mình nên như thế này sẽ tốt hơn Bóng đêm à.
– Tại sao em cứ thích ngồi trong bóng tối?
– Vì khi trong bóng tối, em mới được tỏa sáng.
– Chứ không phải, em là một ngọn nến cong sao?
Câu hỏi bất ngờ và đột ngột ấy khiến cô sững sờ, vì sao “Bóng đêm” lại biết Ngọc là một ngọn nến cong, vì sao lại cứa vào cô nỗi mặc cảm mà cô đã cố tình che giấu. Những ngày qua, cô đã rất hạnh phúc khi nói chuyện với “Bóng đêm”. Tại sao lại vậy, cô vã tắt nguồn máy tính mà chưa kịp chào “Bóng đêm” một tiếng.
o0o
Gần cả tuần nay, Ngọc không vào mạng chat, cô mở máy lên chỉ để tìm kiếm những thông tin liên quan đến việc học của mình. Ngọc thật sự nhớ bóng đêm, nhớ đến cồn cào, nhớ đến day dứt, nhưng cô quyết tâm không gặp bóng đêm nữa. Cô đã quá nhạy cảm rồi chăng, ai quen nhau mà không muốn một lần được gặp mặt. Nhưng cô thà để “Bóng đêm” cứ tưởng tượng rồi thỏa sức nghi ngờ, còn hơn là biết sự thật. Có những sự thật đôi khi không cần nói ra, hoặc không cần biết đến để bớt phải hụt hẫng, Ngọc suy nghĩ và cô đã hành động như vậy với “Bóng đêm”.
“Ước gì mình được nhìn thấy Bóng đêm”, Ngọc tự lấy quyển sách và gõ thật mạnh vào đầu mình, cô muốn xua đi suy nghĩ đó nhưng nó cứ như bóng ma đeo bám, ngày càng nhiều, khiến cô lúc nào cũng nghĩ tới nó. Vừa học bài xong, Ngọc vội tắt máy, cô sợ nấn ná thêm chút nữa, thì sẽ lại tìm “Bóng đêm”. Khó khăn để đặt mình lên chiếc nệm, cô lấy gối úp vào mặt mình, nhắm mắt cố đưa mình vào giấc ngủ.
– Em định trốn anh đến khi nào hả Ngọn nến. (Bóng đêm)
Là tin nhắn của “Bóng đêm”, sao anh ta lại biết số điện thoại của Ngọc, sao anh ta không để cho cô được yên.
– Cho đến khi nào Ngọn nến xua được Bóng đêm ra khỏi đầu mình.
– Trong cuộc sống, đôi lúc ta cũng cần bóng đêm để yên tĩnh mà, sao lại phải trốn tránh và xua đuổi nó. Nến đã dũng cảm để cháy và tỏa sáng, tại sao lại trốn tránh bóng đêm. Hãy gặp và đối diện với bóng đêm một lần, rồi mới thấy giá trị của ngọn nến như thế nào trong mắt người khác, có được không?
Lời của “Bóng đêm” có vẻ hợp lý. Cô đã là ngọn nến hai lần cong rồi, còn gì phải sợ nữa chứ. Mà dẫu “Bóng đêm” không chấp nhận cô thì cũng phải đối mặt. Đắn đo mãi, cô mới đưa ra quyết định cuối cùng là đến gặp “Bóng đêm” vào một buổi tối chủ nhật.
o0o
Ngọc đến nơi hẹn, “Bóng đêm” đã ngồi chờ đợi sẵn, không khó để tìm được chỗ ngồi của “Bóng đêm” khi dấu hiệu của anh là hai mươi ba ngọn nến trên bàn lung linh. Vừa thấy cô, bóng đêm nhổm dậy tính đỡ nhưng rồi lại ngồi xuống. Một chút thất vọng hiện lên trên gương mặt cô, trước khi vào quán, cô thầm nghĩ khi gặp cô “Bóng đêm” sẽ ân cần dìu cô ngồi xuống, giờ thì…
Anh đưa cho cô một hộp quà đã được gói thật khéo léo kèm câu chúc.
– Chúc mừng sinh nhật em!
Ngọc xúc động, làm sao anh có thể biết được ngày sinh của cô. Cô nhìn xoáy sâu vào mắt anh, giọng nói nhẹ như gió thoảng.
– Anh là ai?
– Là Bóng đêm.
Cô bật cười.
– Anh nói đúng, em là một ngọn nến cong, giờ thì anh hối hận vẫn còn kịp đấy.
Anh lắc đầu, dùng một bàn tay để nâng gương mặt cô lên giọng thì thào.
– Dù em là một ngọn nến hai lần cong, nhưng em biết tỏa sáng, lẽ nào em không nhớ anh sao.
Cô giật mình, nhìn kỹ vào gương mặt của Bóng đêm cô mới chợt nhớ ra rằng anh rất quen, cô đã gặp anh bao giờ chưa, trong một thoáng bối rối, cô nửa như năn nỉ, nửa như giận dỗi.
– Năn nỉ anh mà, anh là ai, em không thể nhớ nổi.
– Ngọn nến cũng có ngọn cong và ngọn thẳng, bạn suy nghĩ gì về câu nói này?
Cô tròn đôi mắt xinh đẹp nhìn anh, cùng hai mươi ba ngọn nến đang lung linh cháy, nỗi ngạc nhiên cùng niềm xúc động, cô muốn ôm anh, nhưng cơ thể cô bị bại liệt từ phần ngực trở xuống, cô không thể di chuyển mình được.
– Anh đã khóc khi nghe em kể về câu chuyện của mình, và một sự thật nữa anh muốn nói cho em hiểu, anh cũng là một ngọn nến cong, và chính em đã truyền ngọn lửa sang anh để anh được thắp sáng. Cảm ơn em, hãy là tình yêu của anh nhé!
Giờ cô hiểu được rằng, tình yêu thật đơn giản… như những ngọn nến cong nhưng vẫn luôn tỏa sáng.
Minh Vy