Thứ Hai, 21 tháng 1, 2019

Nhạc - Thơ - Văn Con gà đại tướng

Tiếng gà gáy,
Cất cao tiếng gáy vang oanh liệt,
Hà cớ sao người nỡ xuống tay ?
Bỗng dưng tiếng gáy lạc loài,
Xót thương thân phận đến ngày ra đi !
NM

Con gà Đại tướng

Rõ là một Đại tướng! Chú gà ấy bộ dạng uy nghiêm, hùng dũng quả rất xứng danh Đại tướng bởi mang hai dòng máu bố chọi và mẹ kiến
Nó thừa hưởng của bố cái vóc dáng cao to, lực lưỡng. Còn mẹ? Đó là bộ cánh sặc sỡ điểm vàng, điểm tía, điểm xanh. Lũ gà mái tơ ngây người, tít mắt đến quên bươi mỗi khi Đại tướng dạo gần…
Khuya mờ đất, Đại tướng đã lục cục trong chuồng. Nó đập cánh bình bịch, dõng dạc cất một tràng dài ò o giật nảy cả xóm làng. Chuỗi ò o như hiệu lệnh báo thức đám “bộ hạ dưới quyền” còn mải ngủ say. Cả chuồng gà lập tức nhộn nhạo, xôn xao. Mẹ con mái Hoa chiêm chiếp, tùng tục. Lũ gà choai chen ra cửa, cãi kình nhau oang oác. Thằng trống non phởn chí cũng ngửa cổ lên trời, tít mắt, cố rặn một tràng cụt lủn: Kéc… ke…
Đại tướng xuống chuồng đầu tiên. Tất nhiên! Nó đường bệ phi lên đống rơm, khom người xem xét “bộ hạ” đang lũ lượt… duyệt binh. Xong, Đại tướng mới quay lưng, ngửa mặt lên trời, lại bình bịch cánh, lại một tràng dài ò o. Giọng nó trầm hùng, sang sảng, âm vang như tiếng chuông đồng!
Đại tướng là nhà vô địch. Từ lúc bắt đầu làm chú trống trưởng thành, Đại tướng đã là nhà vô địch. Thể lực tuyệt vời của gà chọi, cộng với máu hăng, nhanh nhẹn và những miếng đá hiểm của gà kiến khiến Đại tướng không còn đối thủ. Thời Đại tướng sung sức, từng có không biết bao nhiêu tên chọi nòi chính cống, dòng dõi mười mươi phải cắp… cựa chạy dài. Dân chơi gà chuyên nghiệp cứ nài nỉ hỏi mua. Bố lắc đầu bảo để làm giống. Thật tình, còn thêm một lý do khác. Ấy là bé Mi. Bé Mi yêu con Đại tướng từ lúc nó còn là một chú gà con lích rích, ngày ngày chạy theo bé vòi dế cơm, châu chấu, thằn lằn…
Ấy là nói chuyện ngày trước, chứ bây giờ thì Đại tướng đã già. Tuy già nhưng cái oai danh lẫy lừng một thuở vẫn còn. Bằng chứng là lũ trống tơ không con nào dám xâm phạm “lãnh địa”. Cứ nhác trông đôi mắt diều hâu, nhác nghe tiếng gáy quen thuộc “ò o” là lảng xa, nem nép. Mà không riêng lũ gà trống, cả ngan, cả ngỗng, cả chó mèo cũng thế. Chúng “kiềng mặt” Đại tướng đến mức lỡ có “xung đột quyền lợi” vì mẩu xương cá hay vài hạt cơm thì bọn to xác ấy cũng chỉ “khống chế hành vi” ở mức gầm gừ, quàng quạc cãi vã chơi chứ không dám “ẩu” với chiếc mỏ khoằm cong ánh thép và cặp cựa nhọn, dài! Tranh để mà tranh, thực tình, Đại tướng cũng chẳng thiết ăn.
Những của tầm phào ấy, Đại tướng đem làm quà biếu các chị mái tơ. Mổ lên thả xuống, cục cục một tràng, vậy là các nàng mái tơ te tái đổ xô đến, vây quanh. Đại tướng đứng gật gù, âu yếm nhìn đám “phu nhân” hớn hở tranh cơm, tranh thóc, tranh xương. Nói vui, chỉ còn thiếu một bàn tay đưa lên thong thả vuốt “râu”, hẳn Đại tướng sẽ càng giống y một lão đại tướng thứ thiệt với bao chiến tích xông pha trận mạc, và bây giờ đang vui vẻ cùng vợ con sau khi ca khúc khải hoàn vang lên.
truyen-ngan-con-ga-dai-tuong-quan-hinh-anh-1
Ấy vậy mà, Tết này, gà Đại tướng sẽ… vô xoong!
Nó già quá, bố bảo: “Giống không còn tốt. Làm thịt thôi!”. Bé Mi rụng rời. Thịt con Đại tướng ư? Quả tình, bé rất mê thịt gà nhưng tưởng tượng đến cảnh con Đại tướng vô xoong bé lại thấy chẳng ngon lành gì! Bé liếc mẹ, cầu cứu. Mẹ trù trừ: “Nó già, thịt dai nhách, ăn uống gì? Cứ để nuôi làm cảnh. Lỡ rồi…”. Mắt bé Mi sáng lên, đầy hy vọng. “Không sao! Mẹ nó cứ mua măng. Ta sẽ hầm măng, hầm nhừ. Trời ạ, ấy mới thật hết đường!”.
Viễn cảnh Đại tướng vô xoong thành chắc chắn, không sai! Bé Mi hầu như muốn khóc. “Gà nuôi là để ăn thịt, không ai lại nuôi gà làm cảnh”, bố bảo thế với Mi.
Biết vậy, nhưng Mi vẫn cứ buồn thiu. Mi nhớ đến ngày Đại tướng còn là một chú chíp con lông vàng lẽo đẽo theo Mi. Mi nhớ đến Đại–tướng–trống–choai, lộc ngộc cao to mà vẫn khờ đặc, không biết “theo mái, chỉ nhăm nhăm chờ cô chủ bồng, vuốt ve để lim dim mắt, cổ họng bật ra những tiếng rên khoái trá cồ ồ… cồ ồ…
Còn nữa, còn cái lần Mi ôm Đại tướng trốn đi vì sợ khách hỏi mua. Rõ ràng, với Mi, Đại tướng không còn là con gà bình thường, mà là một thành viên gia đình, một đứa em. Thịt Đại tướng ư? Không ổn. Phải ngăn ba mẹ. Phải có cách gì đó ngăn ba mẹ. Cái “cách gì đó” bé Mi nghĩ mãi, nghĩ mãi, hết ngày rồi đến đêm mà vẫn chưa ra. Mai là ba mươi Tết. Bố mẹ sẽ thịt gà vào ba mươi Tết. Cái “cách gì đó” cần phải nghĩ ra, phải thực hiện gấp hôm nay!
– Này, tối qua em quên đóng chuồng gà phải không?
– Đâu? Em chốt kỹ rồi mà!
– Chốt đâu mà chốt? Con Đại tướng sổng rồi.
Quả thật, Đại tướng đã rời chuồng tự lúc nào, đang ngẩng cao đầu, hùng dũng ò o trên chót đống rơm!
“Làm sao đây?”, bố nhăn mặt. Mẹ ca cẩm. Chỉ có bé Mi cười thầm. Rụt đầu trong chăn, bé giả vờ ngủ nhưng thực ra bé không ngủ. Con Đại tướng đã sổng chuồng. Và vì sao con Đại tướng sổng chuồng, thú ghê, chỉ mình bé biết.
Nhưng bé không cười được lâu. Bé lò dò ra sân đã thấy bố vốc thóc, ngồi xổm, miệng cục cục. Con Đại tướng từ đống rơm vù xuống, dáo dác nhìn quanh, e dè tiến lại gần. Ban đầu, nó nghi ngại, dừng bước. Nhưng sau, chắc nghĩ mình là Đại tướng mà rụt rè e xấu hổ với “ba quân” nên nó lại ngẩng cao, đường hoàng dắt cả lũ gà mái, gà choai xúm xít ùa vào. “Oác” một tiếng, bé Mi chỉ kịp thấy bố nằm xoài, con Đại tướng đã bị túm chân, giãy đành đạch. Cả đàn gà bay tán loạn.
Bé Mi điếng người!
Trưa, mẹ đun nước. Bé Mi thấy bố mài dao. Con dao sáng loáng, lạnh lùng. Rồi bố vào chuồng, túm Đại tướng mang ra. Bố lại ngồi xổm, kẹp cánh, kẹp chân. Con Đại tướng lúc lắc đầu, ngơ ngác. Hình như nó vẫn chưa hiểu vì sao ông chủ lại tàn nhẫn với nó. Nó nhìn bé Mi cầu cứu, đôi mắt diều hâu chơm chớp, cổ họng đưa ra những tiếng rên ảo não cồ ồ, cồ ồ…
Mặt bé Mi tái nhợt. Nước mắt lưng tròng.
Bố không để ý. Bố vừa giơ dao, toan cắt tiết, đã nghe tiếng bé òa khóc. Bố hốt hoảng buông dao, nhìn bé. Vừa khóc, bé vừa bệu bạo: “Đừng, đừng giết Đại tướng, bố ơi”. “Không giết nó, thịt đâu mà ăn Tết? Con không thích thịt gà sao?”. “Không! Con không thích thịt gà. Con không thích thịt Đại tướng. Bố… híc, bố… đừng… giết…”.
Mẹ bỏ bếp chạy ra. Mẹ nhìn bố. Bố nhìn mẹ. Mẹ lại nhìn bố rồi mẹ lắc đầu. Cái lắc đầu khiến bố hiểu ý, ngừng tay. Con Đại tướng được mở trói đứng rùng mình, dậm dậm chân, rồi đủng đỉnh đi về phía góc sân. Bình bịch cánh, nó lại gân cổ ò o. Hình như nó cho cái sự cố vừa qua là chuyện vặt, chẳng xứng cho sự quan tâm của một Đại tướng từng xông pha trận mạc, tăm tiếng lẫy lừng.
Tết năm nay, nhà bé Mi không có thịt gà!
Ấy vậy mà chưa năm nào bé cảm thấy cỗ Tết ngon hơn. Không khí Tết cũng vui hơn. Tinh mơ đầu năm, cái giọng kèn đồng của con Đại tướng đã rúc oang oang. Bố cười:
– Cha! Đầu năm to tiếng gớm chưa? Cứ theo lời ngài Đại tướng, năm nay nhà ta tha hồ mà phấn chấn, phát tài.
Y Nguyên

 MỘT CON CHÓ HAY CHIM CHUỘT
Hôm ấy, cụ Bá ông quả quyết mở ví tiền để trả cho anh lái chó cái giấy bạc một đồng. Cụ sung sướng cực điểm vì rằng con Vện mà cụ mới mua đấy, theo ý cụ, là một con chó có... dị tướng: béo tốt, chân thấp, mồm và tai vừa nhọn vừa ngắn, mặt trùn trùn gẫy gập như mặt giơi, lông đã hung hung lại có vằn đen như lốt hùm.
Cụ đã khoe với cả xóm rằng ai nuôi được thứ chó ấy ắt sẽ có nhiều dịp phát tài - giống chó cũng có tướng như giống người, mà con Vện của cụ thì lại quý hơn các thứ chó huyền đề hoặc là tứ túc mai hoa vì nó có tướng ngũ đoản.
° ° °
Chẳng hiểu cụ Bá xem tướng con Vện có đúng hay không! Sau khi có nó ba bốn ngày, chưa cho cụ được dịp phát tài đâu, nó đã vồ lấy ống chân cụ Bá bà mà ngoạm luôn cho một ngoạm. Tuy rằng mấy cái răng ngập vào thịt cũng không sâu cho lắm, nhưng cụ bà bị toạc mất hai tấc váy lĩnh: cái triệu chứng hao tài!
Có lẽ tướng ngũ đoản cũng chẳng đáng quý bằng cái váy lĩnh nên chi cụ ông, mặc dầu đã hết sức can ngăn và hạch lại cụ bà rằng "Mới thả cũi nó một ngày nó chưa quen hết người trong nhà, ai bảo bà đã đi về khuya lại không đánh tiếng", cụ cũng chẳng giựt nổi của cụ bà cái đòn ống to tướng lúc ấy cứ giáng xuống lưng con Vện như mưa...
- Này cắn trộm! Này phản chủ với bà!
- Ẳng ẳng ẳng ẳng!
Con Vện trong lúc chịu đòn, chỉ biết kêu có thế, nước mắt chảy ra ràn rụa, trông cũng đáng thương hại lắm.
Thất bại trong cuộc làm thầy kiện cho con chó có dị tướng ấy, cụ Bá ông hậm hực mất đến vài ngày, và khách hàng của cụ, từ đó cũng phải một phen kệch. Bốn chiếc răng nanh chẳng dám dùng đến nữa, từ đấy, hễ thấy người lạ mặt, con Vện chỉ đành gừ gừ một cách cho phải phép, hay là, quá lắm, cũng chỉ đến gâu gâu rất suông. Cái bực tức ấy thật chẳng khác gì cái bực tức của những ông quan viên nào đi che tàn, xuống xóm những tưởng sẽ được hưởng thế nọ... thế này, mà kỳ chung chỉ được có một chầu chay thôi vậy!
° ° °
Vẫn biết cắn là một tính thiên bẩm của loài chó thật song le, bất cứ lần nào, hễ Vện ta vừa rụt chân, rụt cổ, ngứa mồm nhe nanh, hừ một cái, là tức khắc bị những người suỵt suỵt ầm lên, cho nên nó nghĩ ngay đến cái đòn ống, lại cho rằng sự mình bị quát mắng là một điều áp chế, nó chui ngay vào gậm phản mà nằm rồi nhìn thế sự bằng cặp mắt bàng quan. Nếu nó biết nói, ắt nó đã làm một câu: "Chặc! Thì ông mặc kệ".
Dần dần, nó chỉ biết đến bữa thì ăn, ăn xong tìm chỗ nào cao ráo, ít ruồi, ít muỗi, đánh một giấc, cái đầu đặt giữa hai chân trước như người nào đến cái tuổi mũ ni che tai... Nhưng mà các cụ nhà ta đã bảo rằng nhàn cư vi bất thiện.
Cứ ngày nào cũng đủ hai bữa, sáng ngủ đến 9 giờ mới dậy, buổi trưa nào cũng la siết 1 một giấc, cuộc đời như vậy cũng tẻ ngắt. Vện ta phải nghĩ đến cách tán gái cho qua thời giờ. Đã không phải vất vả đến thân lúc nào lại được ăn chơi mặc thích, Vện càng ngày càng béo tốt, lông cứ mượt mà như nhung. Trông cũng có vẻ công tử bột lắm. Bộ mã đã bảnh bao cố nhiên trên đường tình dễ đắc thắng: cái tiếng chơi bời của Vện chỉ trong ít lâu đã lừng lẫy cả xóm: Vện đã nặn thêm ít nhiều xuất đinh cho cái "xã hội có mõm" và hễ cứ nhà nào có chó cái là phải thấy tiếng "quấy khóc" của đàn chó con lau nhau. Thì ra Vện cũng có số đào hoa như Người vậy.
° ° °
Nếu có ai được mục kích công tử Vện tán gái thì mới rõ tâm lý phụ nữ, với những cái thế lực của những bộ mã giẻ cùi.
Không có mùi soa nhưng lại thích cái mốt quay quay mùi soa đằng sau gái nó là cái mốt của bọn đệ tử đảng "Càn Long" ở Hà thành, trước mặt gái, Vện ta cũng vẫy cho đuôi luôn luôn phe phẩy, loanh quanh vài vòng thè lưỡi, ghé mũi, hết sức bầy tỏ tấm lòng khuyển mã, ấy chỉ có thế mà các "tiểu thư" Vàng, Bông, Cún, Mực, cô nào dữ và "lắm điều" vào bậc nhất, và có răng nanh nhọn nhất, cũng không nỡ cự tuyệt con... người có duyên một cách lạ ấy, cũng cảm ngay. Thật vậy, Vện chẳng bị tẽn hoặc bị cự tuyệt bao giờ.
Trò đời vẫn thế: thấy ai hơn mình là phải ghen ghét. Những chó vô duyên khác thường họp đàn họp lũ nhau rồi đến tận nhà cụ Bá gây sự với Vện luôn thôi! Không hề gì, cũng là hạng "có một vài miếng" nên Vện cũng chẳng sợ. Lắm khi một mình cự địch với ba bốn cũng vẫn thắng trận như thường. Cho nên từ các cô êu đài các đến các cô êu nghèo hèn, không một "mẻng" nào mà lại thoát cái phong tình của Vện. Không phải con chó ấy tham lắm, nhưng những khi chim chuột những hạng không có nhan sắc, dễ thường nó muốn thực hành cái lý thuyết: Mùi nhang đã trải, mùi dầu thử chơi! Nói cho đúng ra, Vện lại còn muốn được đời khen mình là yêu bình dân, vì sự thực thì Vện cũng có óc "hoạt đầu" dữ lắm.
° ° °
Nhưng mà có một lần, cái đàn những anh tình địch của Vện đông quá; dễ đến mười mõm ấy; thảy đều vây quanh lấy Vện mà vồ, mà nhá, khiến cho, không chống cự nổi nữa, Vện phải hộc tốc chạy về nhà, chui tọt vào gậm giường đứng giữ thế thủ cẩn thận rồi nhe nhanh gừ gừ ra ý thách:
- Chúng mày có giỏi, vào đây với ông!
Đàn kia.. không có con nào dám vào, chỉ đứng ngoài mà gầu gầu rầm lên ra ý chửi bới và văng tục.
Thật cũng chẳng may cho Vện quá, vì ngày hôm ấy cụ Bá có giỗ tổ, giữa lúc ấy lại nhằm lúc cụ bà đương xới cơm cúng, và cụ ông đương kính cẩn khấn khứa trước bàn thờ.
Bỗng dưng thấy tiếng chó sủa kinh thiên động địa, nhìn ra lại thấy toàn một lũ "đầu trâu mặt ngựa" đương đứng xúm nhau giữa cửa để chõ mõm vào mà tự do chửi rủa tàn tệ, mà dưới gầm thì là Vện, biết ngay lại chuyện ghen tuông chi đó, bực mình và sợ bất kính trong lúc cúng tế, cụ Bá ông quên cả chân mình đương có bít tất bông trắng nõn, nhẩy ngay xuống đất vớ cái lau màn, ra dẹp tan lũ "ưng khuyển" rồi mới quay vào giọt cho Vện một trận không tiếc tay.
Thói thường chó đen giữ mực, Vện cũng chẳng chừa.
° ° °
Đêm ấy, một đêm giăng thanh gió mát, nhân khi cao hứng, Vện phá rào chui ra ngoài đi với tình nhân. Giữa lúc hai bên chỉ non thề biển nặng lời trên con đường nhỏ giáp với lũy tre quanh làng nó cũng là một thứ "con đường Cổ Ngư" 2 chẳng hạn, thì một chú Cược thừa cơ chui qua cái chỗ hở ở giậu, vào sân tự do lấy mất cái chậu thau đồng.
- Thấy sột soạt tiếng động lúc trộm đã chui ra, cụ Bá gọi Vện mãi chẳng thấy đâu, phải lật đật ra sân soi thì... hỡi ơi nông nỗi!
Cách đấy vài phút, Vện lại chui qua lỗ hổng mà vào, hai mắt lấm lét nhìn trộm chủ, ra vẻ lo sợ chẳng hiểu đương đêm soi đèn và gọi mình làm gì thế kia... Thấy Vện có vẻ khả nghi, cụ Bá nhìn đến hàng rào rồi thất kinh chạy đến chỗ hổng. Rành rành một mảng lông mắc gai theo cái triều lưng của Vện lúc chui ra vẫn còn sờ sờ ở đó, cụ biết ngay ra là thủ đoạn của Vện, là nhờ Vện thì chú Cược mới được thừa cơ!
Giữa lúc cụ đương tiếc đứt ruột, cô Khoang, một con chó trông có quý tướng lắm, tứ túc mai hoa, "gót sen đẹp nõn", thật đáng gọi là... hoa khôi của làng êu, cũng chui qua giậu mà vào. Cô vào gừ gừ một câu nũng nịu những tiếng oanh thỏ thẻ muốn đại khái nói; "Giữa lúc này, gió mát trăng thanh mà chàng nỡ bỏ em, vậy thì chàng không coi cái ái tình cao thượng của đôi ta ra sao nữa ư?" Còn Vện giữa lúc ấy đã là một kẻ phạm nhân, mà cũng cứ tự do mơn trớn tình nhân, không coi mặt cụ Bá vào đâu sất cả!
Chẳng thèm nghĩ đến "cặp uyên ương" cụ Bá bèn lấy gậy vụt cho cả đôi một cách phàm phũ. Giận đến cực điểm, lại đau đớn về nỗi mắc lừa cái tướng ngũ đoản, cụ quả quyết chỏ tay lên vầng giăng mà thề độc: hễ có khách là trị tội, bắt Vện phải chịu... giềng hình!
° ° °
Khách lại là chúng tôi.
Muốn an ủi cụ Bá, chúng tôi phải nói chế đi rằng:
- Chó ngũ đoản chẳng hiểu có lợi gì cho người nuôi không, nhưng mà chén thì kể cũng đường được.
Trong lúc giốc bầu say tỉnh, chúng tôi chợt nhớ đến lúc con chó Khoang sang xem cuộc hành hình người yêu của nó. Ôi, thật là một sự chung tình đáng làm gương cho giai nhân tài tử ở đời soi chung!
Thấy con Vện bị trói chặt bốn chân, tiết ở cổ ứa ra như suối, con Khoang vẫn cứ chạy quanh cái chỗ gớm ghiếc ấy để liếm vào mình mẩy con Vện ra ý thương xót. Còn Vện thì nước mắt ràn rụa, khóc như một người thật. Nếu biết nói như người, hẳn nó đã nói: "Em ơi, anh chết vì em đấy! Thôi cũng là dịp cho anh tỏ dạ hy sinh tính mệnh để phụng sự ái tình!".
Nhưng những tư tưởng tốt đẹp ấy chỉ được phô diễn bằng mấy tiếng:
- Ẳng ẳng ẳng ẳng!
Vũ Trọng Phụng 
1934

 
Nương tựa
Hữu duyên nương tựa chốn thiền môn,
Phúc phận cho người khắp mọi thôn...
Đâu biết nơi đây âm thầm khóc,
Bao điều ước nguyện ắt vùi chôn !

Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu,
Cứu người, cứu vật thậm cao sâu...
Tâm lành như ý ngày sau đến,
Thuyền Từ dẫu khẳm có chìm đâu ?
NM

Nuôi heo trong chùa

“Chùa mà cũng nuôi heo”. Người ta nói thế không biết khen hay chê. Nhưng chắc chắn chuyện này lạ, và gây tò mò. Nhiều người đến chùa chẳng phải với mục đích viếng Phật mà chính là vì hiếu kỳ, muốn chứng thực coi cái điều đồn đại ấy có đúng không. Vớ vẩn thế!
Con heo này thầy nuôi lâu lắm rồi, từ bữa mới về trụ trì đây cơ. Một buổi chiều tình cờ trong vườn chùa lạc vào một con heo, hình như nhà ai đó cúng tạ lăng mới phóng sanh. Đã phóng sanh thì chẳng lẽ bắt lại? Nhưng sao nó lại lạc vào đây. Chắc tại vườn chùa nhiều cây cối, mà ở đời cái sự trốn tránh luôn tìm nơi rậm rạp. Vậy người tu hành có phải trốn tránh không mà vườn chùa cũng rậm rạp?
Lúc đầu sư thầy chẳng có ý định bắt giữ. Thầy nghĩ heo nó khôn lắm, thế nào rồi cũng tìm về cái nơi được sinh ra. Nhưng suốt hai ba hôm sau con heo vẫn đi long nhong quanh vườn, phóng uế lung tung, thi thoảng lúc thầy đang tụng kinh trong chánh điện lại nghe tiếng khịt khịt trái tai. Chẳng đặng đừng thầy phải đóng bốn cọc tre, nẹp mấy tấm ván bìa xung quanh làm thành cái chuồng. Ném vào trong ít ngọn rau khoai lang, thế là con heo chui ngay vào nhai ngon lành. Thầy khóa cửa chuồng lại, tạm thời cứ cho nó sống ở đây, mai mốt có ai đến xin thì thầy cho. Nhiều khi đấy cũng là một cái duyên, nó có mến chùa thì mới đến. Mà cũng có thể là nghiệp của con heo, trải qua mấy ngàn lần tích lũy công đức tiền kiếp mới được thế này. Và nhà Phật gọi cái đức ấy là căn tu.

Nhiều người đến viếng chùa thấy lạ, rỉ tai nhau. Từ bữa đó chùa đông người đến thăm viếng hơn. Thầy nghĩ nơi này hẻo lánh, đạo Phật chưa ai biết. Nhờ con heo mà người ta đến chùa thì cũng là một điều hay. Chùa được giáo hội phong hiệu tự đàng hoàng, song, người ta quen gọi ngôi chùa heo, hơi thô thiển nhưng không thể trách. Gọi thế cũng như dân gian hay gọi tên quai nôi, mà tên quai nôi thì có đâu sang với đẹp.
Cũng may heo là loài ăn chay được, chỉ cần rau ráng ngũ cốc thôi. Xong bữa cơm còn đồ thừa thầy đem đổ vào máng cho nó. Rồi thầy phát quang mảnh đất cỏ rậm sau nương chùa, trồng khoai lang. Người mới khó nuôi chứ heo thì dễ, cho gì nó ăn nấy. Ăn như heo. Thành ra có nuôi heo cũng hay, tận dụng được những thứ thừa thãi. Bậc tu hành vốn sống nhờ công đức của chúng sanh, mỗi miếng ăn phải biết quý trọng công sức lao động của người đời.
Con heo lớn nhanh, thầy phải nới cái chuồng ra rộng thêm cho nó có chỗ đi lui đi tới. Nhờ chay tịnh mà con heo láng mịn, da lông mọc thưa. Chỉ có điều nó là con heo cái, dân mình hay gọi heo nái, nhưng nó có đẻ đâu mà gọi là nái.
Người đến chùa vô tình buột miệng, con heo này phối đực được rồi đấy. Phỉ phui cái miệng, nhà chùa không ủng hộ chuyện đó. Trong mầm sinh có chủng tử khổ đau, có manh nha tử biệt. Sinh trụ hoại diệt là quy luật muôn đời của loài hữu tình, cũng là nghiệp chướng mà nhà Phật phải vượt qua để đạt giải thoát.
Vào kỳ động dục, con heo cái cứ dũi mõm sủi đất nền, húc phá bốn bức thành, thức ăn đổ vào nó vớt vát qua quýt vài miếng rồi đẩy lật cái máng đi. Tham dục vốn là căn nguyên của mọi tội lỗi. Phá một hồi chán nó lại nằm ì ra giữa nền. Sư thầy đưa tay vuốt dọc từ đầu nó xuống tận đuôi, như an ủi động viên, như cầu mong thứ lỗi. Thầy không thể làm khác được. Có người nói như thế là ác. Trời sinh ra có đực có cái thì phải cho nó đến với nhau chớ.
Nhờ sống cảnh thanh tịnh, ăn chay tịnh riết con heo cũng bớt dần cái tham đắm bản năng ấy. Cứ mùa dậy cái sau lại bớt quậy phá đi. Nhưng cội rễ si mê thì khó bỏ lắm. Nó nằm ì ra, chán ăn. Ngó đâm tội mà chẳng thể cho nó toại nguyện. Vào chùa là chấp nhận những nguyên tắc ràng buộc để về sau được giải thoát. Thôi coi như kiếp này nó chấp nhận tu hành hòng kiếp sau được đầu thai làm người. Mà kiếp người cũng khổ chớ sướng sung chi đâu. Ừ, nhưng đấy là sự đầu thai gần nhất để thăng lên cõi Phật.
*
Khi Sanh vào chùa cạo đầu làm chú tiểu thì con heo đã được mười tuổi rồi, ở chùa nên tuổi heo cũng gọi là tuổi đạo. Nó cũng tu mà, có khi còn tu nhiều hơn con người nữa là khác. Mỗi lần hai thầy trò tụng kinh thì con heo nằm oẹp xuống, hướng mũi vào trong chùa, tai vểnh lên như nghe kinh, mắt nhắm lại chẳng khác nào nhập pháp.
Con heo được nuôi nấng và chăm sóc chu đáo. Quanh năm, ngày nào hai thầy trò cũng múc nước tắm cho nó. Mùa nóng thì tắm bằng nước giếng, mùa lạnh pha thêm nước sôi cho ấm. Điệu Sanh xắn tay áo lên, cầm một cục sỏi to cọ quanh mình con heo.
Từ khi có chị bán vải, cái chị không sinh được con đã ly dị chồng ấy, đến chùa thì chị đỡ đần giúp. Dù sao có bàn tay phụ nữ mọi việc thu vén chăm bẵm cũng tốt hơn nhiều. Con heo coi chừng thích được chị chăm sóc, nó nhắm nghiền mắt lại vẻ thích thú mỗi lần được chị cọ xát lên da. Chị xoa tay vào chỗ bụng con heo, sờ mấy cái núm xám đen rồi chép miệng: “Thế này mà không đẻ đái được gì cũng buồn”. Điệu Sanh đứng bên ngoài buột miệng: “Tại thầy không cho nó đẻ đấy”.
Trái ngoắc vậy đó, người muốn có con thì chẳng sinh được, kẻ sinh được lại không ai cho. Chị thèm khát mong mỏi có được cái diễm phúc làm mẹ mà chẳng được. Nhiều khi chị nghĩ nếu mình đổi phận với con heo thì có lẽ hay. Cho nó ra ngoài mặc sức sinh con, để chị vào chùa ở chay ở nể. Nhưng nghĩ là nghĩ vu vơ vậy, chớ có căn tu cả đấy. Lâu nay chị vốn là một đệ tử sùng đạo Bổn sư, một phật tử thân tín nhà chùa, năng lui tới thăm viếng và đóng góp công quả. Chỉ chừng ấy thôi thì tốt, còn cạo trọc đầu làm ni sư thì khó lắm.
Con heo cái lớn hết cỡ, bụng phình xệ xuống chạm sát nền chuồng, đi lại khó khăn. Suốt ngày nó nằm một chỗ, mắt nhắm nghiền, thở nhẹ, thi thoảng co duỗi chân cựa quậy một chút cho đỡ tẻ. Những ngày chùa có lễ, bà con Phật tử đến đông, cứ vây quanh cái chuồng ngó con heo cái. Người tỏ vẻ thích thú khi ngắm lớp da dẻ trắng hồng của nó, heo nái ở ngoài nhăn nheo chớ làm sao được khuôn dung như thế. Người lại cảm thương cái phận nằm chờ vô thưởng vô phạt, lại tiếc khi ngó mấy cái núm ú tròn ở bụng heo, giống này mỗi lứa phải sinh được trên chục con bụ bẫm chứ chẳng phải chơi. Đa phần người ta mủi lòng thương, bảo thầy nhốt chi con heo, kìm giữ cái khát khao sinh nở của nó. Lạ một điều là người ta không bao giờ biết rằng cuộc sống trần tục vướng nhiều sự khổ não hơn. Chẳng thương lấy cái thân mình trong cõi cuồng mê, lại bận tâm trắc ẩn cho kẻ khác.
Những ngày sóc vọng như thế chị bán vải ở miết trong chánh điện, phụ lo dầu đèn, lau quét tàn nhang, ai đưa hương hoa đến viếng thì chị nhận rồi sắp đặt. Nhất quyết chị không ra chỗ chuồng heo, cứ như thể sợ người ta nhắc đến chuyện sinh đẻ thêm buồn.
Tiếng tăm ngôi chùa heo lan xa. Tiếng tốt tiếng xấu đều có. Thiên hạ đồn đại thêu dệt trăm chuyện như mộng. Người bảo con heo là hóa thân của vị Bồ Tát từ cung trời đâu suất giáng hạ nhập thế. Ai muốn cầu xin điều gì cứ đến vườn chùa, khấn thầm rồi sờ tay vào con heo là được. Kiểu như các sĩ tử đến mùa thi đổ xô vào Văn Miếu xoa đầu các cụ rùa đá để mong đỗ đạt.
Thế là con heo cái lạc loài bỗng dưng được hóa thiêng. Người ta kiêng cữ, không gọi nó bằng cái tên heo phàm tục nữa mà xưng chung chung là Chú, như gọi một chú tiểu. Ai đến chùa đều nói ra vườn thăm Chú. Người ta càng sùng bái Chú chừng nào thì thầy thêm lo chừng nấy. Đạo Phật là chân tín, không chấp nhận những trò mê muội đó. Sư thầy bước ra chuồng, nhìn con heo cái nằm an nhiên, yên trí rằng nó đang thiền định. Tâm nó từng ngày lãnh nhận dần những quả đắc lợi. Chẳng có thần thánh thiêng liêng gì đâu, sư thầy chỉ nghĩ đơn giản là con heo có căn tu.
Chị bán vải đến chùa thường xuyên. Cái tâm chị tốt, muốn nương tựa vào tam bảo như một bến bờ vững chắc, và chị làm thiện nguyện chỉ mong phần đời còn lại được sống an lạc, chẳng đòi hỏi gì hơn. Thế nhưng đàn bà thường nhẹ dạ cả tin. Nghe người ta bảo bữa nhờ sờ vào tai Chú mà làm ăn khấm khá lên, một cô mãn kinh nói xoa đầu Chú thì hết bệnh nhức óc… Lúc đầu chị không tin lắm. Rồi nghe thêm mấy người khác nữa kể, chị đâm hoang mang, và tin. Ở đời đôi khi điều giả nhưng nhờ người ta nói hoài mà thành sự thật.
Lần thấy chị tắm cho heo, điệu Sanh hỏi: “Cô có xin Chú điều gì không? Cô tắm cho Chú hoài thể nào xin cũng được”. Vừa lúc ấy chị lần tay xoa vào phần bụng con heo. Chị nghĩ, giờ có xin cũng đã muộn. Rồi chị ngẩn ra cười méo mó, chắc mình có xin Chú cũng không thể cho, vì Chú cũng đâu có sinh được nhiệm mầu công lực ấy.
Buổi chiều chị xách làn từ chùa trở về nhà. Nước mắt tự dưng chảy. Không rõ đang thương heo hay thương mình.
ST