Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018

Nhạc - Thơ - Văn Cỏ tím

 
Vạt cỏ hoa tím,
Lao xao vạt cỏ tím buồn,
Nồng nàn hương toả chiều buông ánh vàng.
Nghe chừng có tiếng ầm vang,
Bao nhiêu quá khứ mênh mang hiện về,
Người giờ nửa tỉnh nửa mê,
Còn tôi tỉnh thức trở về chốn xưa 
Thời gian thắm thoát thoi đưa, 
Vạt hoa tím cũ vẫn chưa lụi tàn !
NM

 Cỏ tím
1. - Cỏ tím kìa anh!
Giọng cô bật lên vừa thảng thốt, bất ngờ vừa reo vui như gặp lại cố nhân. Hai bàn tay cô vỗ nhịp “lụp thụp” vào lưng anh giục anh thắng xe lại.
Minh họa: Văn Nguyễn 
- Em chưa bao giờ thấy nhiều cỏ hoa tím dày mịn như nhung một vạt rộng lớn như thế này. Dừng xe đi anh. Giá mà em dang tay ôm hết được nó. 
Anh ngừng xe. Cô nhảy xuống thật nhanh khiến anh phải la lớn:
- Coi chừng vấp té, ổ gà kìa!
Cô hét lên:
- Em muốn được ngã trên cỏ!
Khi ấy nắng rất vàng nhuộm màu lá xanh ngả sang một màu buồn buồn phủ toàn bộ khu vườn điều. Mà như không phải vườn, chỉ phía ngoài người ta trồng điều còn bên trong là rừng cao su. Cô nôn nóng tìm lối vào vì có một con mương rất nhỏ tuy cạn nước nhưng cô không dám băng qua khi anh cảnh giác cô lần nữa:
- Không nhảy được đâu, bờ cỏ rất trơn đấy!
Cuối cùng cô cũng chạm được thảm hoa cỏ tím bằng lối đi vòng khá xa.
Anh dựng xe sát lề. Lấy máy ảnh ra.
Cô nói to:
- Bướm vàng kìa anh, chụp hình cho em nhanh lên kẻo chúng bay mất!
Lũ bướm chập chờn. Màu áo đỏ của cô nổi rõ trên nền lá điều nhuộm nắng vàng, có thảm hoa tím bên dưới cùng những đốm vàng rơi của lũ bướm cộng thêm màu thân cây nâu đậm như cô đang tựa vào đó hứa hẹn những bức ảnh sẽ rất đẹp. 
Anh bấm máy liên tục như đang say. Anh nghĩ đến những tấm hình biết nói, cười với những âm thanh giòn vụn nhưng trong trẻo và vô tư trong không gian sắc màu tự nhiên, vô tình mà hữu ý của thiên nhiên khiến anh muốn ngộp thở! 
Cô vẫy:
- Vào trong này đi anh, cỏ thơm lắm!
Anh nhảy qua mương, bờ hơi trơn khiến anh loạng choạng. Cô nhìn anh cười to: 
- Lúc nãy anh cảnh giác em sao giờ anh lại băng qua lối đó? 
- Anh khác, em khác chứ! - Anh nói to đáp lại.
Anh tìm được chỗ ngồi dưới một gốc cây điều. Cô hái một nắm cỏ mang đến chia cho anh một nửa:
- Anh ngửi đi, phải để sát mũi mới biết được mùi thơm dịu, kín đáo và thật ngọt! 
Cô ngồi xuống bên anh, bó gối hít hà mùi hoa cỏ tươi. Anh nhìn kỹ những đóa hoa màu tím phớt bé tí xíu nở kết thành chùm. Anh ngửi thấy mùi của đất, lá cây già, mùi cỏ và hoa và nắng. Anh nói với cô: 
- Người ta gọi đây là cây cỏ hôi. Em nhìn kỹ lông tơ trên lá đây này, không phải gây ngứa như những loài cỏ khác mà có tác dụng dược liệu đó. Bây giờ là mùa thu hoa có màu tím xanh, vài tuần nữa cỏ già, sẽ chuyển sang màu tím thẫm.
Cô to mắt nhìn anh:
- Tại sao là cỏ hôi, em không đồng ý chút nào!
- Do khi vò lá lại sẽ có mùi hơi hắc.
- Ôi, em không tưởng tượng được vạt cỏ này chuyển sang màu tím thẫm, có đẹp hơn bây giờ không hả anh? 
- Anh nghĩ đó là một màu hơi buồn bởi đám cỏ đã già, giảm sức sống, chuẩn bị tàn lụi nhưng là một màu đẹp, lãng mạn, chững chạc, điềm tĩnh và ôn hòa. 
Cô phá lên cười:
- Anh ví von văn vẻ quá đó!
Nắng rớt xuống trước mặt họ. Gió mơn man trên mặt, cánh tay. Cô ngả người tựa lưng vào gốc cây điều, giọng cô mỏng và nhỏ vừa đủ anh nghe như lời thì thầm:
- Hôn em đi anh! 
Mùi hoa cỏ tím lúc này hơi nồng nhưng vẫn kín đáo. Bầu trời xanh chao nghiêng. Nắng rơi xuống lưng chừng rồi nhảy múa, lung linh. Chim rừng ở đâu ùa về líu chíu cãi cọ. Lá khô lào rào bên dưới, nhịp nhàng. Cô thấy trong vòm lá lao xao bên trên có mây trắng chập chờn ẩn hiện. Cô nhắm mắt. Đồng cỏ tím trải rộng và cái mùi thơm dịu kín đáo bỗng nồng nàn, lộ liễu quá. Rồi bỗng dưng cái mùi thơm ngọt đó loãng ra, tan đi và biến mất. Trong trạng thái buông thả, tự do, bềnh bồng cô thấy mình đuổi theo màu cỏ xanh tím trải dài bất tận. Cô chạy nhanh hơn rồi chới với khi chúng bỗng hóa sang tím thẫm và bừng tỉnh giấc mơ. 
Anh ngồi dậy, mở túi xách lấy ra tấm ni lông nhỏ trải xuống đất, đặt nắm cơm, hộp muối vừng và bịch ruốc. Cô còn ôm lấy anh chút nữa:
- Mỗi phút giây trôi qua đều trở thành ký ức đẹp phải không anh?
Anh cầm lấy bàn tay cô, vỗ nhẹ và hôn lên tóc cô:
- Với anh, ký ức luôn đẹp, dù vui hay buồn!
Rồi anh giục:
- Ăn cơm xong đi tiếp, cô nhỏ. Đường còn khá xa đó. 
Cuối cùng họ cũng đến được nơi có dòng suối từ trên núi đổ xuống, vòng vèo ôm sát chân núi. Lý do thôi thúc anh đến đây vì anh nghe đồn trong lòng suối có một loại đá màu tím thẫm rất đẹp, ai may mắn sẽ tìm thấy! Anh là dân địa chất và say mê đá. Bước chân của người săn đá như cuộc tìm kiếm nhân duyên đưa những viên đá vô tri, nghìn năm lặng lẽ, lộ ra với người, phơi bày những nét đẹp hoàn hảo và vĩnh cửu. Tất nhiên điều đó chẳng hấp dẫn gì với một cô bác sĩ tương lai, hồn nhiên, trong trẻo, sẵn sàng hét to lên vui sướng khi thấy một cánh đồng cỏ tím nhưng rồi sẽ mau chóng quên đi. 
Và, trong lúc anh đang lò dò, mò mẫm bươi bới trong dòng nước bên dưới tìm kiếm đam mê của mình thì bỗng dưng cô thấy thác nước bên trên đổ mạnh bất thường. Đất trời như chao nghiêng mà cô chắc chắn không phải cô chóng mặt. Nước ầm ầm như ụp hết xuống hất tung mọi thứ lên cao. Cô hét to lên với anh vẫn đang cắm mặt vào dòng nước phía xa kia. 
- Anh ơi, em cảm giác như núi đổ đó anh!
- Anh ơi, mau chạy lên, em thấy khác thường lắm!
- Anh ơi… 
Tiếng của cô vang lên chìm lỉm trong tiếng nước đổ. Rất nhanh sau đó, một tiếng ầm vang động cả núi rừng. Đất trời xoay vòng trên đầu, đảo lộn dưới chân cô. Cuối cùng trước mặt cô chỉ có đồng cỏ hoa tím trải dài mênh mang và cô đuổi theo cái màu tím ấy mải miết, bất tận! 
Trong mẩu tin trên báo một tuần sau đó, có đoạn: 
“Cô gái được cứu sống trong tai nạn núi lở ở xã X, huyện Y, tỉnh Z là sinh viên năm thứ tư trường đại học y dược đã hồi tỉnh. Cô cho biết hôm ấy cô đi cùng với một bạn trai. Đội cứu hộ vẫn đang nỗ lực tìm kiếm...”. 
Năm năm sau, trong một bài tổng kết về các hiện tượng bất thường của thiên nhiên gây ra những tai họa nghiêm trọng tại một hội nghị, có đoạn: 
“Nhân chứng vụ núi lở ở xã X, huyện Y, tỉnh Z, năm 19... kể rằng, cô mất hai năm để phục hồi trí nhớ và trở lại trường học. Bạn trai đi cùng cô khi ấy được cho là mất tích...”. 
Cuộc sống trôi nhanh về phía trước, năm năm, mười năm, hai mươi năm… Những cô gái lớn lên, thành thiếu nữ, thành mẹ rồi thành bà. Cỏ hoa tím vẫn mọc dày lên sau mùa mưa, ban đầu là tím xanh, nếu kê sát mũi sẽ ngửi được mùi thơm nhẹ, kín đáo. Rồi màu tím xanh sẽ chuyển thành tím thẫm, nếu kê sát mũi sẽ ngửi được mùi cỏ úa hôi hôi. Có người thắc mắc, cỏ dại có mùi hôi thì đầy, cái tên chung chung quá làm sao phân biệt được cây cỏ hôi khi nó có nhiều giá trị dược liệu quý? Tại sao người ta không đặt cho nó cái tên khác lấy từ màu hoa đẹp thế kia nhỉ? Ai biết trả lời giùm đi!
2. Xe chở đoàn khám bệnh thiện nguyện cuối năm gồm có các bác sĩ, nhân viên y tế và tình nguyện viên rời khỏi thành phố vào lúc 3 giờ 30 sáng. Nhóm của bác sĩ Thúy toàn các cô gái xinh xắn dễ thương, thêm một nhà báo và nhiếp ảnh lên xe tại điểm xuất phát. Xe đón bác sĩ Hưng và vài người khác nữa ở điểm cuối. 
Bác sĩ Hưng là trưởng đoàn, ông nhìn toàn xe rồi hỏi bác sĩ Thúy:
- Nhóm chị Thúy đi đủ không?
- Vắng hai người, Hưng ơi!
- Dược hay điều dưỡng hả chị?
- Điều dưỡng - Bác sĩ Thúy trả lời.
Bác sĩ Hưng nhìn ra phía sau lần nữa rồi nói:
- Hôm nay lực lượng mỏng quá. Bốn trăm bệnh nhân đăng ký khám, mọi người cố gắng nhé!
Bác sĩ Hưng phát bảng tên cho các thành viên, ông cầm lấy micro phổ biến các công việc sẽ làm. Sau đó ông nói với tài xế: 
- Bác tài tắt giùm đèn trong xe cho mọi người ngủ được chút nào thì ngủ. Theo kế hoạch 6 giờ 45 đến nơi. Đoàn chúng ta sẽ ăn sáng rồi sau đó vào xã làm việc luôn, có thể qua trưa. Tất cả chú ý nơi chúng ta khám bệnh không có nước, hơi bất tiện khâu vệ sinh cá nhân cho nên ai nấy cố gắng làm sạch sau khi ăn sáng nhé! 
Mọi người cười ào. Làm sao chủ động điều khiển được hệ thống xả thải đây hả bác sĩ? 
Tiếng cười nói lao xao thêm chút nữa rồi nhẹ dần, im ắng. Chỉ mình bác tài với con đường dài trước mặt. Qua những đoạn không có đèn đường, trời vẫn còn rất tối. Tốc độ vừa phải, xe chạy riêu riêu dần về phía ngày mới. 
Đoàn thiện nguyện nhanh chóng ai vào việc nấy khi xe đổ mọi người xuống nơi khám bệnh là một hội trường trung tâm văn hóa xã có hai tầng xây dựng đơn sơ, trông cũ kỹ, tạm bợ. Nhóm dược bên dưới, khám bệnh tầng trên. Có năm bàn khám bệnh. Trong năm bác sĩ, hai người đã nghỉ hưu là bác sĩ Thúy và một người nữa. 
Trong lúc đám đông chen chúc chờ khám bệnh, hai tình nguyện viên dìu lên lầu một người đàn ông gầy tong, cao lòng khòng như cây sậy nghe nói là bị mù nên ưu tiên cho khám trước. Vừa đi người đàn ông vừa lảm nhảm:
- Tui đã nói rồi, tui không có bệnh gì hết, mấy đứa con tui cứng đầu quá, cứ biểu tui đi khám!
Bàn của bác sĩ Thúy có một người bệnh vừa khám xong, người đàn ông được đưa vào ghế trống.
Bác sĩ Thúy hỏi bệnh nhân:
- Anh bị làm sao?
Người đàn ông lặp lại câu nói: 
- Tui đã nói rồi, tui không có bệnh gì hết, mấy đứa con tui cứng đầu quá, cứ biểu tui đi khám! 
Bác sĩ Thúy nhẹ nhàng:
- Anh tối mắt lâu chưa? 
- Hồi thanh niên tui gặp tai nạn ảnh hưởng đến mắt nhưng vẫn còn nhìn được tuy không rõ lắm, sau thị lực giảm dần rồi mù luôn! 
- Anh thấy trong người thế nào? 
- Trong người tui không thấy thế nào hết! Chỉ là con tui nó phàn nàn tui không ngủ, lục sục cả đêm không cho tụi nó ngủ nên ép tui khám bệnh. Với người mù như tui thì đêm cũng như ngày, ngủ đêm hay ngủ ngày cũng giống nhau mà nói nó không chịu nghe! 
- Anh mất ngủ bao lâu rồi? 
- Năm năm nay cứ đêm yên tĩnh là tui không ngủ được. Mà nằm thì hay nghĩ lung tung, tui lại ngồi dậy làm cái gì đó. Tui biết con tui ban ngày lao động cực nhọc chúng cần giấc ngủ đêm nhưng phải thông cảm cho tui chớ. Tui già rồi, còn thức được bao nhiêu lâu nữa đâu, mai mốt rồi cũng nằm xuống, ngủ luôn! 
- Các con anh nghề làm gì?
- Làm cao su đó. Lúc vô đây bác sĩ không thấy rừng cao su bạt ngàn sao?
- Sao anh biết rừng cao su bạt ngàn? - Bác sĩ Thúy cười nhẹ. 
- Ngày nào mà tui không nghe cái loa trên cây trụ đèn kia nói ra rả rồi tưởng tượng được chớ. Với lại hồi trẻ khi tui vô đây rừng cao su đã mênh mông rồi! 
Bác sĩ Thúy cầm lấy tay bệnh nhân bắt mạch. Người đàn ông như run lên, bỗng dưng ông ngửi thấy mùi cỏ, lúc thơm dịu, khi nồng nàn. Lúc phớt xanh, khi ánh tím. Rồi bất ngờ cái màu tím bên trong màu xanh chuyển nhanh sang màu tím thẫm, sắc cạnh, lạnh lùng nhưng đầy mê hoặc. Đá, phải rồi đá. Ông không nhầm lẫn vào đâu được, đó là viên đá ánh tím đẹp nhất lần đầu tiên ông nhìn thấy, kể cho ông nghe rằng nó nằm đó cả ngàn năm... rồi sau đó tất cả thành một màu xám đen trải dài đến vô tận... 
Lấy ống nghe xuống, bác sĩ Thúy ghi toa thuốc và nói với bệnh nhân: 
- Tôi cho anh loại thuốc này giúp anh có giấc ngủ dịu, nhẹ. Uống sau bữa cơm chiều. Nếu sáng hôm sau có ngầy ngật đôi chút không sao nhé. Mất ngủ với người lớn tuổi là bình thường, đừng quan trọng việc mình không ngủ được, có người chỉ cần ngủ hai hay ba tiếng trong một đêm. Không ngủ lúc này thì lúc khác. Chính thời gian lơ mơ trong ngày là đã ngủ bù rồi. 
- Tui cũng biết vậy nhưng con tui không chịu!
Bác sĩ Thúy cười:
- Bởi vậy mới cho thuốc giúp anh ngủ ban đêm.
- Ôi trời, năm năm rồi, thuốc tiên hay sao mà hết được chứng này hả bác sĩ?
Bác sĩ Thúy như chợt nhớ ra:
- À, có một loại cỏ người ta gọi là cây cỏ hôi, phơi khô nấu nước uống giúp dễ ngủ đó anh. 
- Tui biết loại cỏ đó mà tui mù đâu có đi tìm được
Diễn tả cho con lỡ chúng không hiểu, hái cây bậy bạ, uống chết sao? 
Người đàn ông còn lảm nhảm những câu tương tự vậy khi được đưa xuống bên dưới nhận thuốc, càm ràm cả với mấy cô phát thuốc rằng ông không bị bệnh gì hết, chỉ tại con ông cứng đầu, nói không nghe!
Khi bệnh nhân cuối cùng nhận thuốc xong. Các cô gái nhanh tay dọn dẹp rồi lao xao rủ nhau đi chụp hình selfie. Bấy giờ mọi người mới biết phía sau trung tâm văn hóa xã là vườn điều rộng, cảnh đẹp như trong phim. Một cô reo lên thật to khi khám phá ra vạt cỏ hoa tím và rủ nhau chạy ào về phía đó không quên kéo theo anh chàng nhiếp ảnh.
Cô khác lôi bác sĩ Thúy:
- Bác Thúy đi chụp hình cùng với tụi con. 
Chỉ vạt cỏ hoa tím thưa mỏng mà các cô thay phiên nhau hết ngồi hụp sau vạt cỏ lại đứng lên, rồi nằm dài chống cằm... 
Một cô đẩy bác sĩ Thúy ngồi xuống, mặt sát gần đám cỏ: 
- Chụp cho bác Thúy kiểu này đi anh gì ơi! 
Lúc này bác sĩ Thúy mới nhận ra mùi cỏ tím thơm, dịu ngọt. Ký ức mờ mờ ảo ảo. Đồng cỏ hoa tím dày và mịn như nhung, không chính xác là màu tím xanh hay tím thẫm. Bác sĩ Thúy lắc đầu bất lực khi ký ức được kích hoạt liên tục nhưng không gợi nhớ điều gì rõ ràng. 
Vậy mà, lúc xe rời khỏi trung tâm văn hóa xã, nhìn rừng cao su đang vào mùa thay lá xanh ngút mắt, bác sĩ Thúy bỗng nghe như có tiếng ầm rất to, vang vang, dội vọng lại. Quá khứ tuôn về ào ạt. Phía bên trong vườn điều là rừng cao su, có cái mương nhỏ cạn nước. Và hoa tím, bé tí xíu thôi nhưng nhiều lắm làm nên một màu tím mịn như nhung. 
Khi đó nắng có màu rất vàng, rớt xuống lung linh nhảy múa. Đúng là cây cỏ hôi nơi lúc nãy chụp hình. Mấy chục năm rồi, người ấy bây giờ ở đâu, còn sống hay đã chết? 

Đào Thị Thanh Tuyền
Phận mồ côi
Mẹ đi cắt cỏ ven sông,
Bỏ con ở lại theo chồng phương xa...
Trời xui mẹ kiếp phong ba,
Từ đây một gánh sơn hà trao con
NM

Cắt cỏ ven sông

Mẹ vẫn đi cắt cỏ ven sông. Đi ngược con sông qua ba ngôi làng, hai cái đồn Tây và năm cánh đồng là về tới nhà chị em Tho. Nhưng tối qua, chị Thơm vừa khóc vừa bảo đã sáu tháng nay mẹ chưa về nhà. Mẹ quá bận. Nghe nói nhà chồng mới của mẹ nuôi cả đàn trâu, mẹ suốt ngày đi cắt cỏ. 
Tho cũng đã đến đây một lần tìm mẹ. Lần đó mẹ còn là dâu con họ Nguyễn nhưng đã theo chân người chồng bây giờ về ra mắt họ Phạm. Mới về ra mắt mà mẹ cũng quang gánh ra bờ sông cắt cỏ.
Vừa đi vừa chạy cả tiếng đồng hồ thì Tho nhìn thấy mẹ đang cắm cúi cắt cỏ bên người đàn ông ấy. Tho hét lên: “Mẹ về nhà với con. Mẹ mà lấy chồng là con chết ngay cho mẹ xem!”. Nói xong Tho khụy xuống. Cái liềm rời khỏi tay, mẹ vội chạy tới ôm lấy Tho mà khóc. Người kia chỉ đứng lặng lẽ nhìn. Hai đứa con của người ấy đang chăn trâu gần đấy cũng cứ đứng nhìn.
Trở về nhà, mẹ nằm bày bạy trên giường vì ốm. Bà nội không nói gì, bà hay thắp nhang lên ban thờ.
Người kia không thấy đến nữa. Một mình chị Thơm gồng gánh ra cắt cỏ thay mẹ. Nhà chỉ có một con trâu, nhưng chị Thơm tham việc vừa chăn trâu vừa cắt cỏ còn là để bán cho nhà ông Tranh, ông Lý trong làng lấy tiền mua rau mắm. Còn Tho, chẳng bao giờ Tho thích đi cắt cỏ, Tho chỉ đi bắt cua, tát cá với bọn con trai, nhưng cũng đã từ hai tháng nay, Tho sắm cái mẹt, theo thằng Quẩy, cái Mún nhảy tàu bán hàng thuốc lá, thuốc lào, kẹo lạc, bánh gai, nước vối... Giờ thì mẹ ốm. Tho nghỉ bán, ở nhà quanh quẩn trông mẹ. Thằng Quẩy bảo, mày coi mẹ mày là trẻ con mà phải trông? Cái Mún bảo, nó giữ mẹ nó không muốn cho đi lấy chồng thì có, nhớ luôn thủ sẵn con dao nếu ông ta đến thì dọa cho một nhát. Tho không thèm đối lại chúng nó.
Nghỉ tới chục chuyến tàu để trông mẹ, vậy mà Tho vẫn không giữ nổi mẹ. Một hôm, vừa ăn cháo xong, mẹ lên cơn đau bụng, mẹ chạy thốc ra vườn nôn khan. Đánh cảm, cạo gió không hề đỡ. Mẹ cứ nôn thôi.
Bà đi làm đồng về, nhìn thấy thế thì buồn rũ ra, nói, mẹ cái Thơm có chửa rồi, mau gọi người kia đến đây ngay. Tho vẫn dọa chết để giữ mẹ nhưng không xong. Bà nội khuyên: Sự thể đến nước này cũng chẳng thể giữ được mẹ mày nữa, vì cái sinh linh bé bỏng trong bụng, nó có tội tình gì. Thầy mày ốm mất từ khi mày mới mười tháng tuổi, mẹ mày khi ấy vừa đôi mươi. Đã mười hai năm qua, người mất đã mất, người sống vẫn phải sống, với lại sau này chị em mày là phận gái, rồi cũng sẽ theo chồng, bà già bà chết, khi ấy mẹ chúng mày biết dựa ai? Giọng bà chùng xuống.
Thế là mẹ theo người kia đi về phía cuối dòng sông. Lúc ấy, Tho vừa mười ba tuổi, còn chị Thơm mười năm.
Gió từ sông thổi hơi nước lên mặt Tho mát lạnh. Mẹ rót cho Tho bát nước vối, rồi hỏi:
- Con vẫn đi tàu bán hàng à?
- Vâng.
- Bán có được không?
- Cũng tàm tạm ạ.
- Chị Thơm vẫn đi cắt cỏ bán cho nhà ông Lý, nhà ông Tranh chứ?
- Không, dạo này chị ấy không đi cắt cỏ nữa.
- Sao lại không đi?
Tiếng đoàn tàu chở hàng xình xịch chạy qua. Tho nhìn thấy mấy thằng lính Tây đang ngồi vắt vẻo trên các thùng hàng, vai đeo súng, một thằng đang trỏ tay về phía cái đồn nằm giáp đầu làng mẹ ở nói cái gì đó, lòng Tho chợt sôi lên tức giận.
- Chị con ốm à?
Đợi đoàn tàu đi qua, mẹ lại hỏi.
Tho cố kìm cơn uất đang dâng lên trong lòng, đáp lời mẹ:
- Còn hơn cả ốm.
- Tại mấy tháng qua em Tép ốm quá nên mẹ chưa về thăm nhà được.
- Chị Thơm cũng là con mẹ, chị ấy rất cần mẹ lúc này, mẹ về ngay đi. Chị ấy bị...
Mặt mẹ chợt biến sắc:
- Chị con làm sao?
Tho ôm lấy mẹ, khóc nấc lên:
- Chị đi cắt cỏ ven sông, một trưa, bị thằng Tây Rép hãm hiếp rồi.
Mẹ sững người như trời trồng.
Hôm ấy, Tho vừa xuống tàu, cái Hũn đã chạy lại thông báo tin dữ, chị Thơm đã chạy ra sông tự tử vì không chịu được nỗi nhục bị thằng Rép hãm hại. Tho quẳng cả mẹt hàng đi, băng qua cánh đồng, chạy tắt ra bờ sông.
Giữa thảm cỏ gà, chị nằm đó ướt sũng, quắt queo, người làng đang thay nhau cứu chữa cho chị. Tho định xé đám đông chạy lại thì mấy cánh tay lực lưỡng ngăn không cho vào, vì người nhà vào gần là khó cứu lắm. Bà nội cũng đang ngồi bệt dưới gốc tre vừa khóc vừa gọi thảm thiết, ba hồn chín vía cái Thơm ở đâu thì về mau. Những người đàn bà gầy gò, rách rưới đang cắt cỏ, làm ruộng cạnh đó cũng chạy lên, cứ đồng thanh gọi giúp bà, ba hồn chín vía cái Thơm ở đâu thì về mau, ba hồn chín vía cái Thơm ở đâu thì về mau...
Đàn ông cứ cứu chữa, đàn bà cứ hú gọi. Nửa tiếng sau thì mắt chị động đậy. Người ta gọi bà và Tho vào. Bà quỳ sụp xuống mà vái tạ ơn trời đất, thần Phật.
* Đêm qua, một tàu chở vũ khí của giặc qua sông bị du kích đánh đắm, tám thằng lính Tây thiệt mạng, xác nổi lềnh phềnh trên sông. Bọn lính trong đồn sợ không dám tới gần, phải thuê mấy người dân chài vớt xác đồng bọn lên.
Sáng sớm, chợ họp phiên đầu tháng, bọn Tây đã tràn vào làng càn quét. Bà nội Tho vừa bê mẹt cam ra định ngồi bán thì bị chúng cướp hết, nhà Khung bị cướp cả hai con gà mái ghẹ. Cô Mạn vừa đặt quang gánh rau muống xuống cũng bị một thằng ngang nhiên thò cả hai tay bóp vú như vặn rau muống xào tỏi, phải quẳng cả gánh rau mà ù té chạy. Ai cũng tức nhưng không dám phản kháng. Sau đó, chúng xông vào làng lùng bắt bác Chì, bác Vận, bác Du, anh Sân, anh Nguyên ra đình làng. Chúng đánh đập dã man, thậm chí dùng kìm vặn răng từng người để buộc mọi người khai ra vụ đánh đắm tàu, nhưng vặn thì vặn, không ai hé nửa lời. Bất lực, chúng đành trói, gông đám tù nhân lại, đợi tàu về chở đi, nói là sẽ đem xử bắn. Chúng còn sang làng Tĩnh lùng bắt một toán Việt Minh bảy người nữa, cũng dẫn giải đến đây. Thằng Rép, trưởng đồn chửi tục bằng tiếng Việt rằng để trả thù cho đồng bọn, phen này sẽ hủy diệt tiệt nọc đám Việt Minh quèn vùng này! Làng nước nhốn nháo. Người nhà kêu khóc thảm thiết.
Bà chạy vội về nhà kể chuyện động trời ấy cho Tho nghe. Bà vừa nhắc tới tên anh Sân, Tho vội bịt miệng bà lại, chỉ vào trong buồng, sợ chị Thơm nghe thấy, vì anh Sân là người yêu của chị.
- Bây giờ anh ấy ở đâu?
Chị Thơm đã đứng ở cánh cửa từ lúc nào, giọng thều thào.
- Chị...
- Đừng giấu chị. Anh Sân biết chuyện của chị, anh ấy lồng lộn lên định lẻn lên đồn sống mái với thằng Rép, nhưng chị gàn anh Sân không nên manh động. Chị bảo chị không xứng với anh ấy nữa, anh hãy tìm người khác đi. Sân nghe rồi lầm lũi bỏ đi. Mấy bữa sau thì tàu giặc bị đánh đắm. Giờ anh ấy ở đâu?
- Đang bị trói ngoài đình, đợi chuyển đi.
Tho chỉ dám nói có thế.
Chị Thơm với cái nón, chạy vù đi. Tho chạy theo sau. Đình làng chật cứng người lớn trẻ con, người khóc lóc, kẻ kêu xin, váng cả góc trời. Phía sân trong, bọn lính đang thúc báng súng vào lưng tù nhân để còng thành từng xiên. Thằng Rép giơ dùi cui lên phang vào đám tù nhân túi bụi, mắt nó đỏ ngầu như máu.
Tàu vào ga. Đám tù nhân bị lùa đi. Những người nhà tù nhân chạy theo liền bị roi vút ngang mặt, ngang lưng, tứa máu, ai nấy dạt ra. Chợt anh Sân nhìn thấy chị Thơm đang đứng lẫn trong đám đông, anh Sân nghển cổ định nhoài ra nói câu gì đó thì bị thằng Rép cho một cái báng súng vào mang tai, anh cứng họng. Chị Thơm ngồi thụp xuống đất khóc. Hàng tù nhân nối đuôi nhau lên tàu. Thằng Rép lên cuối cùng, vênh mặt lên nhìn đám đàn bà con gái đang lùi lại phía sau. Tàu chuyển bánh.
Cả làng chìm trong đau thương. Người ta kháo nhau, nếu cũng như đợt càn quét trước thì mười hai người đàn ông này sẽ bị giải xuống phía Cầu Cất và bị tử hình. Biết tin đó, sáng hôm sau, Tho nói dối chị Thơm đi kiếm nguồn hàng rồi cùng thằng Quẩy, con bác Vận, đi bộ hai chục cây số xuống Cầu Cất nghe ngóng tin tức. Hỏi thăm mấy ông già gần đó kể, đêm qua chúng có bắn mười đồng chí Việt Minh rồi hất xác xuống sông, nước lũ đang về mạnh, nên khi chúng rút người dân ra tìm xác thì không thấy, chỉ thấy những vệt máu, đám Việt Minh còn lại chúng lùa lên xe chở đi mất. Thằng Quẩy khóc, không biết thầy nó còn sống hay đã chết. Tho vỗ vai nó, điềm nhiên:
- Khóc được ích gì.
Hai đứa lại đi dọc đường tàu về. Tới làng thì trời sâm sẩm tối. Nhìn lên đồn thấy có vẻ yên tĩnh, Tho rủ Quẩy xuống sông tắm, vớt rọ tôm Tho đánh từ tối qua còn chưa kịp đổ. Hai đứa đi lộn lên gốc gạo rồi mới nhảy ùm xuống sông.
* Bà gọi Tho vào thì thầm:
- Hỏng rồi.
- Hỏng gì cơ bà?
- Nó nôn khan cả ngày nay. Nó biết có chửa. Nó không ăn, cứ tự đấm bụng mình thùm thụp.
Tho vào buồng, thấy chị Thơm đang vén áo, chằng dây chun quanh bụng, Tho giật tay chị ra. Hai chị em ôm nhau khóc.
Rồi mẹ cũng về, lúc Tho đang đi móc cua. Mẹ gánh theo mấy nải chuối và mua cho hai chị em mảnh vải may áo. Vừa bước chân vào nhà thì hai mẹ con nhìn thấy cái Tẹt con chị Hái hàng xóm, hai tay bám thành giường, đang giậm hai chân lên bụng chị mà giậm nhảy như nhảy trên đống chăn bông. Lao vào lôi cái Tẹt ra khỏi bụng chị Thơm, Tho định tát cho nó một cái thì chị gàn:
- Chị cho kẹo để nhờ nó lôi cái thai ra đấy.
Vừa thả tay ra, cái Tẹt đã chạy biến ra ngoài sân.
Mẹ ôm cái bụng đã đỏ nẩng của chị khóc bảo rằng:
- Tại mẹ đã bỏ các con mà đi nên ra nông nỗi này, lỗi ở mẹ.
Tho bảo:
- Chị đừng làm vậy, đứa nhỏ có tội gì đâu.
Chị Thơm bảo:
- Nhưng con không muốn đẻ ra đứa nghiệp chướng này.
Ba mẹ con đi bộ đến nhà bà lang. Đợi một tiếng nữa thì bà lang sắc xong bát thuốc. Đến lúc bê bát thuốc lên miệng để uống, chẳng ngờ, chị Thơm lại nức nở khóc rồi bất ngờ hất tung bát thuốc xuống nền nhà. Nước thuốc đen ngòm, sủi bọt xèo xèo trước khi ngấm hết vào đất.
Đưa chị về nhà xong là mẹ cũng tất tả quang gánh đi về phía cuối con sông. Nhà chồng mới không thể thiếu mẹ một tối, thằng Tép còn bé không thể thiếu sữa mẹ một đêm.
Mẹ lên tới triền đê, Tho chạy theo, dặn:
- Nếu con vắng nhà, mẹ nhớ năng về với chị Thơm được không?
Mẹ lặng lẽ gật đầu. Tho đứng nhìn bóng mẹ mất hút sau rặng tre.
Trăng sáng. Làng yên tĩnh lạ. Từ khi năm người đàn ông trong làng bị bắt đi thì chưa đến tối nhà nào cũng đã đóng cửa cài cổng sớm, con gái càng không dám ra đường, kể cả ban ngày chứ đừng nói gì buổi tối.
Bên ngọn đèn dầu tù mù bà đang ngồi tuốt rơm bện chổi. Chị Thơm mệt quá đã thiếp đi. Tho đi ra đầu nhà, men theo vườn cây, lên bờ sông. Một màu sương trắng. Nước từ trên thượng nguồn đổ về, sóng vỗ oàm oạp. Xa xa, tiếng còi tàu rú lên trước khi vào ga. Những ánh đèn pin loang loáng, những bước chân rình rịch, mấy thằng Tây vừa đổ bộ xuống ga. Nấp trong gốc tre Tho nhìn thấy thằng Rép vừa đi vừa vung chân vung tay, áo nó phanh ra để lộ hình săm con sư tử nhe răng dữ tợn trước ngực. Tho muốn mình biến thành con sử tử để vồ xé rách ngực nó, moi tim của nó ra cho hả dạ.
* Chị Thơm định vác quang đi cắt cỏ. Chị bảo, cỏ đang lên tốt, nếu không cắt, cỏ ăn vào ruộng thì sâu bọ làm hỏng hết lúa, với lại cắt một sáng cũng kiếm được hai bơ gạo, lại còn con trâu cũng không thể bỏ đói được. Bà giữ lại không cho đi, dạo này thằng Rép hay dẫn lính vào làng lùng sục bắt bớ, trộm cướp ác lắm, hãy thư thả đã, trâu thì bà ràng sau nhà cho ăn rơm cũng được. Nhưng chị Thơm cứ đi. Bà kéo tay chị Thơm lại, bảo:
- Vậy bà đi.
Tho chạy ra giằng lấy đòn gánh và đôi quang trên vai chị, rồi ấn bà lùi vào trong bếp.
- Để cháu.
Hai người kia ngạc nhiên. Từ bé đến lớn chưa bao giờ Tho đi cắt cỏ. Tho chỉ thích đi bắt cua, bắt cá, tắm sông, rồi giờ thì nhảy tàu bán hàng.
Bà gàn:
- Mày cũng không được đi. Nhỡ có chuyện gì nữa thì bà có chết không nhắm được mắt.
- Chẳng có chuyện gì đâu.
Tho quả quyết.
Ruộng lúa nhà Tho gần mấy bụi tre, cỏ bờ lên tốt chờm xuống cả mặt ruộng. Mấy ruộng bên cạnh cũng thế. Từ hôm chị Thơm bị hại, đàn bà, con gái trong làng không dám ra đồng một mình, cánh đồng ven sông vắng hẳn bóng người.
Cắt xong được một bờ ruộng, ánh nắng đã chiếu thẳng đứng, Tho vã mồ hôi, người ngợm nóng bức, bèn cởi khăn, áo nhảy tòm xuống sông tắm. Vừa lúc Tho bơi ra tới đám hoa súng định hái thì có tiếng súng nổ, con chim bói cá ngã quay đơ xuống chiếc lá sen non. Sau bụi tre, thằng Rép rời súng khỏi tầm ngắm, nhìn Tho cười khình khịch, mắt nó đỏ như mắt cá chày. Tho hốt hoảng, núp sau mấy bông súng, nhưng đôi mắt cá chày của nó vẫn nhìn như hút vào vòm ngực non mới nhú trắng nõn của Tho.
Nước sông sóng sánh. Thằng Rép lao vun vút xuống sông. Tho bơi cuống cuồng qua đám hoa súng, cố để lên nhanh tới bãi ngô giữa sông. Còn vài sải tay nữa thì Tho bị thằng Rép tóm được chân, lôi giật ngược lại, nước chảy vào mũi vào miệng, Tho nghẹn thở, ho sặc sụa. Một tay ghì vào bụng Tho, một tay nó xé rách quần áo Tho, rồi nó lại thả tay ra, Tho vùng vẫy bơi được vào gần bãi ngô, nó lại nhào tới ôm chặt, nó vờn Tho như mèo vờn chuột. Nó ngửa bụng lên trời, vật Tho nằm lên bụng nó, nó cào, nó cấu, Tho đau đớn. Nó cười ré lên, rồi lại nhả Tho ra. Tho bám được vào một cành si, lấy đà đạp vào bụng nó một cái vội leo lên bãi. Thằng Rép bị đau, chửi tục, ngồi bật ngược trở dậy lao đến vồ gọn lấy con mồi, tay nó xé toạc áo quần của Tho. Mắt cá chày, mũi diều hâu, miệng cá ngão, tất cả đang cọ vào thịt da Tho. Nó dừng lại để cởi quần, nhưng đai súng vẫn cứ khóa chặt bên hông. Tho trần như nhộng, lổm ngổm bò tới gốc cây si thì lại bị vật ngửa ra, đất phù sa nhơ nhớp dưới thân. Trong lúc nó cúi xuống định kẹp cứng chân Tho bằng hai chân nó không để giẫy giụa cho dễ hành sự thì bàn tay phải của Tho lần được vào trong túm rễ si rậm rịt. Đoàng! Mấy con chim bay vót lên. Máu đỏ phọt lên ngực Tho, thằng Rép trợn ngược mắt nhìn trời không hiểu có chuyện gì đã xảy ra, rồi đổ vật xuống.
Tới chiều tối thì bọn lính trên đồn tìm thấy xác thằng Rép trần truồng bên bãi ngô giữa sông. Một viên đạn găm vào giữa ngực trái của nó. Bọn lính kháo nhau, không phải viên đạn từ khẩu súng của Rép, dù khẩu súng đó cũng đã bị Việt Minh cướp đi mất.
Ba ngày sau, nhân lúc bọn lính trong đồn mải tiếp nhận hàng từ tàu chuyển xuống, lơ là tuần tra dọc bờ sông, thằng Quẩy lẻn bơi qua sông ra bãi ngô, tìm mãi dưới đám rễ si mà chẳng thấy khẩu súng mà nó và Tho đã giấu hôm hai đứa ra tắm sông đổ rọ tôm vớt được nữa. Nhớ lại lời Tho thủng thẳng nói lúc hai đứa đem súng giấu đi: “Tao muốn giết thằng chó đểu đó!”, Quẩy liền chạy về nhà bà Tho, thấy bà và chị Thơm đang khóc vì Tho bị mất tích mấy ngày nay. Quẩy bảo, hai người đừng khóc nữa, cái Tho chắc không chết được đâu.
* Chị Thơm sinh ra thằng Nam tóc xoăn, mắt xanh, chị vẫn cắt cỏ chăn trâu, còn bà lần hồi cái chổi, con cua, cái tép. Hòa bình lập lại, bọn lính trên đồn đã rút chạy hết. Tho vẫn biệt vô âm tín. Khi Nam biết chăn trâu, đánh dậm giỏi thì cụ nội mất.
Vào đúng hôm các gia đình trong làng thổi xôi đóng oản cùng làm giỗ trận cho năm người đàn ông, con trai của làng bị bọn lính Tây bắt đi xử tử thì có đoàn cán bộ cấp trên về xã tuyển quân. Nam cũng đã đăng ký từ trước, đúng hôm ấy, Nam đánh trâu ra đồng từ ba giờ sáng để không lỡ ruộng cấy cho mẹ. Mặt trời nhô lên bằng cái đòn gánh trên ngọn tre thì Nam cũng cày bừa xong thửa ruộng ven sông. Dắt trâu về đến cổng, Nam đã ngửi thấy mùi xôi chè bay lên, bấy giờ bụng Nam mới réo lên ùng ục.
- Mẹ thắp hương cho bố Sân xong chưa để con còn vét cháy ăn, kẻo lên xã khám lại không đạt yêu cầu.
Vừa nói Nam vừa chạy vào nhà. Chợt Nam khựng người lại vì nhìn thấy mẹ đang ôm một người phụ nữ mặc quân phục bạc màu, cả hai đang đứng trước ban thờ mà cứ nức nở khóc như con nít.
Người phụ nữ gạt nước mắt, quay ra nhìn Nam.
- Thằng bé đã cao hơn cả dì Tho rồi này.
Mẹ gạt nước mắt, nói:
- Dì Tho của con đấy, thì ra bấy nhiêu năm dì đi kháng chiến, nay cùng đoàn cán bộ về xã tuyển quân, dì mới có dịp về thăm nhà được. Lại với dì đi con!
Dì Tho nắm tay, vuốt tóc Nam âu yếm, rồi dì dang cánh tay ôm Nam vào lòng, dì cười mà hai hàng nước mắt cứ chảy dài trên má.
Nguyễn Thu Hằng

Chiếc lá năm xưa
Giấc mộng ngày thơ giấc mộng buồn !
Gửi hồn phiêu lãng giữa chiều sương,
Tôi về tìm lại vườn xưa cũ,
Không vấn vương gì không tiếc thương...

Dẫu là chiếc lá năm xưa,
Nhận làm chi nữa thêm buồn ước mơ
NM

Cỏ Bốn Lá
Cỏ bốn lá mang lại sự may mắn, nhưng may mắn thật sự xuất phát từ sự chân thành, và may mắn cũng chỉ đến với những người biết trân trọng sự chân thành ấy...
Tám năm bay nhảy tự do, tôi giờ lại đứng giữa căn nhà rộng rãi mà trống vắng của gia đình mình. Bố mẹ vẫn đang trong chuyến du lịch châu Âu, anh trai cũng phải bận bịu với công việc kinh doanh riêng, do vậy lần này chỉ có mình tôi trở lại.
Căn nhà cấp hai nằm yên bình trong cái thị trấn nhỏ này là nơi tôi sinh ra, lớn lên, là nơi gia đình bốn người chúng tôi có hơn hai chục năm gắn bó. Cho đến khi hai anh em tôi lần lượt trưởng thành, rồi công ty nhỏ của bố nhờ gặp được đúng thời cơ thuận lợi mà ăn nên làm ra, gia đình tôi mới chuyển lên thành phố để tiện cho công việc. Bố mẹ không bán căn nhà này đi vì muốn để lại làm nơi an dưỡng tuổi già sau này. Thế mà, giờ hóa ra tôi lại là người trở về sớm nhất!
Tôi từ nhỏ đã thích náo nhiệt, thích đi đó đây, thậm chí có ước mơ xách ba lô đi vòng quanh thế giới. Tôi cũng từng nghĩ mình có thể vui chơi rồi đi hết cả cuộc đời này. Ấy vậy mà mới hai mươi tám tuổi, chưa già, chân đã bắt đầu mỏi. Có lẽ lí do đơn giản là vì cuộc đời vốn không phải lúc nào cũng đẹp đẽ và thuận lợi như trong cái suy nghĩ ngây ngô ban đầu của tôi. Thất bại trong lựa chọn công việc và tình cảm đã khiến tôi chán nản.
Suốt tám năm qua tôi đã theo đuổi một thứ gì đó thật xa xôi và mơ hồ, mà đối với tôi khi nhìn lại lúc này thì chúng là những thứ cao xa đến tầm thường và ngớ ngẩn. Phải, có lẽ đúng là có những thứ tưởng chừng như cao xa, hoàn mĩ nhưng trải nghiệm rồi mới nhận thấy nó hóa ra lại chỉ là tầm thường, rồi bản thân đã cố chạy theo để đạt được những thứ hư vô ấy mới đúng thật là ngớ ngẩn. Như vậy đấy, người ta vẫn thường không muốn những thứ xung quanh mình quá bình lặng hay giản đơn, đôi khi bỏ lại cuộc sống an nhàn đã có được mà phiêu bạt theo một thế giới tấp nập ồn ào với những vô hình là những bon chen, ngột ngạt.
Tôi không phủ nhận cuộc sống đã từng quá ưu ái mình khi mà mọi thứ đến với tôi đều khá dễ dàng và suôn sẻ. Lúc nhỏ tôi thường hay tự hào vì có một ngôi nhà lớn nhất trong xóm, nhưng điều đó dường như vẫn chưa đủ thỏa mãn cái mơ ước sống trong một lâu đài công chúa lộng lẫy trong tôi. Lớn lên tôi lại không phải chật vật để có được một, thậm chí là một vài công việc ổn định, nhưng thay đổi việc làm qua lại nhiều lần trong tám năm, tôi rốt cuộc vẫn chưa tìm ra được cái hứng thú mơ hồ mà mình muốn hướng tới. Ngay từ khi biết yêu, tôi đã có một người yêu thương mình thật lòng, một người nguyện đứng đợi tôi rất lâu, rất lâu. Vậy nhưng tôi lại vụt chạy qua mà thậm chí không hề ngoảnh đầu nhìn lại về phía người đó. Để rồi, suốt thời gian qua tôi đã theo đuổi những cách yêu thật viển vông, trải những mối tình chẳng hề trọn vẹn và cũng đã không ít lần bị vấp ngã. Tôi dừng lại với một người đàn ông mà tôi cho rằng mình cuối cùng đã tìm được tình yêu đúng nghĩa thật sự. Tôi không ngừng chạy theo và yêu người đó đến khờ dại trong suốt ba năm, để rồi trông thấy thế giới xung quanh mình bỗng như vỡ vụn khi chứng kiến anh ôm hôn một người con gái khác. Anh nói rằng đã hết yêu tôi, rằng anh không còn cần tôi, rằng tôi vốn chẳng là gì trong cuộc đời của anh dù là phía trước hay tiếp sau của hiện tại, bảo rằng tôi hãy thôi ảo tưởng về một mối tình đẹp đẽ vốn không hề có thực kia. Tôi không biết mình đã điên cuồng mà làm những gì sau khi nghe từ anh những lời khiến trái tim mình tê dại đó. Tôi đã cố rũ bỏ sự thực, đã cố níu kéo, nhưng rồi lại nhận thấy bản thân mình hóa ra mới thật nực cười.
Tôi rốt cuộc chẳng còn niềm tin với mọi thứ, chán nản cùng mệt mỏi khiến tôi muốn tạm thời rời khỏi cái thành phố hoa lệ ồn ào để tìm cho mình một khoảng thư thái bình yên. Tôi quyết định gửi lại chỗ cổ phần nhỏ trong công ti của bố, còn mình trở về đây sống nhàn nhạ để vết nứt trong tim có thể dần lành, làm bạn với cây bút, với vài mẩu truyện vu vơ như sở thích một thời của tôi trước kia.
                                             ***
Một ngày mới được đánh thức bởi sắc màu tươi rạng của những gợn nắng mai. Tôi cũng thức giấc theo tiếng leng keng khe khẽ của chiếc chuông gió treo phía trên cửa sổ, lờ mờ nhận thấy một dòng chất lỏng đã khô lại nơi khóe mắt mình. Phải, đêm qua có lẽ tôi đã khóc, nhưng là khóc trong giấc mơ - giấc mơ về một người khiến trái tim tôi dù bị tổn thương nhưng lại vẫn cứ muốn níu kéo. Một mối tình ba năm, nói thế nào cũng không thể dễ dàng mà rũ bỏ.
Mặt trời lại lên cao thêm một chút, tôi bước theo cơn gió thanh nhẹ buổi sáng sớm ra một góc vườn. Phía sau gốc cây cổ thụ già kia là một mảng cỏ xanh mướt - là loại cỏ ba lá mà tôi từng biết tới với một ý nghĩa đặc biệt. Trước kia nó là một đám cỏ nhỏ, nhưng giờ sau bao năm, thảm cỏ đã lan rộng ra cả góc vườn. Lúc tôi trở về chỗ này rất rậm rạp, mấy người thuê tới làm vườn đã định phá bỏ bãi cỏ này, nhưng không hiểu sao tôi lại bảo họ giữ lại. Những ngọn cỏ ba lá xanh mơn mởn khẽ khàng vươn qua mấy rễ cây lớn đâm ngang, nhẹ rung rung mình theo gió. Thậm chí có một phần những nhánh cỏ đã quá khích mà lan sang cả khu vườn của nhà kế bên. Cạnh bờ rào bên đó có một cậu bé chừng bảy, tám tuổi đang cặm cụi đùa nghịch với vài cọng lá. Tôi bỗng nhiên ngẩn ngơ giống như vừa trông thấy được một bức tranh vẽ tuổi thơ của chính mình.
Trong bức tranh ấy cũng có một cậu bé với đôi mắt một mí trông thật lém lỉnh, cậu ngồi sổm ngay gốc cây mà đưa ánh mắt tò mò nhìn con nhỏ đang lúi húi giữa đám cỏ ba lá xanh rì bên cạnh. Cô bé cứ mải miết tìm kiếm thứ gì đó mà không buồn bắt chuyện với cậu, vậy nên cậu cuối cùng cũng khó hiểu lên tiếng:
"Ê, mày bắt cái gì ở đó vậy?"
Cô bé bấy giờ mới ngẩng mặt, đuôi mắt khẽ cong lên thành nụ cười:
"Không bắt con gì cả, đang tìm cọng cỏ bốn lá."
"Hả? Tìm lá cỏ để làm gì?"
"Chị tao bảo nếu tìm được lá cỏ nào có bốn cánh thì sẽ rất may mắn, mong muốn sẽ thành hiện thực, thật đấy!" - Con nhỏ tròn xoe hai mắt như để khẳng định câu nói của mình.
"Điêu, một cái lá cỏ mà như thế được! Thế thì muốn gì cứ đi bứt một cái về là xong à."
Cô bé liền bĩu môi: "Mày tưởng tìm được cái lá có bốn cánh như thế dễ lắm à! Tao kiếm từ nãy tới giờ có được cái nào đâu!"
Cậu nhóc liền nhổm bật dậy, tiến tới bãi cỏ mà ngồi xuống xem xét: "Nhiều cỏ thế này mà không tìm được á?" Thế rồi chính cậu một lát sau đó cũng phải ngao ngán thở dài: "Sao chỉ toàn lá ba cánh nhỉ?"
Thế là hai đứa nhỏ lại mải mê mà tìm cỏ suốt cả buổi chiều, thậm chí đến tận khi người nhà gọi về ăn cơm - một điều mà có lẽ chỉ những đứa trẻ còn thật lắm vô tư trước cuộc đời mới dành nhiều thời gian đến thế. Con nhỏ buồn thiu vì nó thật sự đang có một ước nguyện, vậy nhưng nó lại chẳng thể kiếm được cọng cỏ bốn lá nào. Nhưng vẫn giống với mọi khi, nó luôn luôn nhận được một lời an ủi: "Đừng có buồn, nếu mày thích thì mai tao sẽ tìm cho mày."
Thế rồi có một hôm, cậu bé từ đâu bỗng chạy vụt tới nhà của con nhỏ, chưa nhìn thấy người nhưng cậu đã gọi lớn từ rất xa. Tới trước mặt cô bé, cậu đưa ra một cọng cỏ có bốn lá nằm gọn giữa lòng bàn tay: "Xem này, tao tìm được rồi, cho mày đấy, cái chân của mày sẽ nhanh khỏi thôi, đừng có mà buồn nữa." Hai đứa nhỏ đều nhìn vào chiếc lá mà cười thật tươi, vui sướng giống như vừa được bố mẹ hứa sẽ mua cho một thùng kem thật lớn.
***
Cậu bé đó là bạn thân, là mối tình đầu, cũng là người từng cho tôi tình yêu chân thành nhất. Ngay từ khi còn rất nhỏ, cậu bé ấy đã luôn biết cách an ủi tôi, bảo vệ và nhường nhịn tôi. Khi lớn lên, anh luôn là người bên cạnh tôi, là người nguyện chờ đợi tôi, nhưng lại là người bị sự vô tâm của tôi bỏ rơi ở lại.
Tuổi thơ của chúng tôi là những vô tư hồn nhiên, tuổi thanh xuân của chúng tôi là những tình cảm mới nảy nở thật ngây ngô và mộc mạc. Chúng tôi vẫn mang bên mình cái tình bạn "mày - tao" trong suốt mười mấy năm, rồi không biết tôi rung động trước anh khi nào, chỉ nhớ khi anh nói "làm bạn gái tao đi", vậy là tôi đồng ý. Thậm chí hồi đó tôi vì cứng đầu, nhất mực không chịu gọi "anh" mà bị lấy mất nụ hôn đầu tiên.
Tôi chỉ có một cuộc tình như vậy trong quãng đời cấp ba, bắt đầu từ lúc hai chúng tôi mười sáu tuổi. Cho tới mười tám tuổi, ra trường, ra đời, anh không còn ở cạnh tôi luôn luôn, có lẽ đó là lúc tôi cảm thấy tình yêu của mình thật nhàm, là lúc tôi chạy qua anh để bước qua thật nhiều con đường mà tôi cho là bản thân muốn trải nghiệm. Tôi còn nhớ ngày tôi gọi qua điện thoại nói muốn chia tay anh, anh mặc cho trời đã về đêm mà chạy xe hơn ba mươi cây số tới nơi trọ của tôi ở gần trường đại học mà hỏi tôi vì sao nói với anh như vậy. Tôi nhớ hôm đó đã thấy nước mắt của anh, giọt nước mắt tôi chỉ có thể nhìn thấy khi anh còn là một đứa nhỏ - là vì tôi nói không muốn tiếp tục yêu anh, là vì tôi nói tình cảm tôi dành cho anh trước kia chỉ là sự rung động vu vơ của tuổi mới lớn.
Vậy là chúng tôi chấm dứt mối tình đầu như vậy. Mặc dù rất lâu sau đó anh vẫn nói còn yêu tôi, rằng anh nguyện đứng đợi tôi, nói tôi hãy tới những nơi muốn tới, nhưng anh sẽ không thay đổi, sẽ vẫn đứng đợi tới khi tôi mệt mỏi và trở về. Khi ấy tôi đâu quan trọng những lời nói đó, tôi cứ dần chạy xa, rồi chạy xa khỏi anh. Lúc bố tôi đưa ra ý chuyển nhà lên Hà Nội, tôi chẳng cần suy nghĩ mà lập tức gật đầu giống như đó đã là ước nguyện từ rất lâu. Rồi hai mươi ba tuổi, sau khi có công việc riêng được một năm, tôi hoàn toàn đã không còn liên lạc với anh, hòa vào cuộc sống xô bồ thực sự đã khiến tôi đánh rơi đi thật nhiều thứ.
***
Tôi lục từ trong căn phòng lúc trước một chiếc hộp của chính mình hồi nhỏ, đó chính xác là vỏ hộp bánh quy lớn tôi xin của mẹ để đựng vài vật dụng linh tinh. Nó đã từng là "chiếc hộp bí mật" theo tôi suốt bảy năm trung học. Tôi để vào đó những là hình của thần tượng, là vài cái móc treo nho nhỏ mà chính tay tôi đã làm ra, là vài quyển sổ nhỏ ghi chép vu vơ những điều mà chỉ mình tôi hiểu, là những mẩu giấy nhớ ghi kế hoạch và dự định trong tương lai, đôi khi còn có cả những đồng nhuận bút khiến tôi vô cùng hạnh phúc khi có được nhờ gửi truyện ngắn của mình lên báo.
Tôi mang chiếc hộp ra chiếc sô pha ngoài phòng khách, đặt nó lên đùi và mở chiếc nắp qua nhiều năm đã đóng chặt. Phía trong không còn nhiều đồ lỉnh kỉnh như trước kia, chỉ là hai quyển sổ với vài câu truyện còn đang viết dang dở, và, cạnh đó là một sợi dây chuyền có mặt đá hình cỏ bốn lá đã từng là rất quen thuộc với tôi. Tôi không còn đeo nó từ khi chia tay với anh, nhưng tôi không nhớ mình đã mang nó để vào đây từ lúc nào. Bất giác tôi nhìn vào cái mặt hình lá mà bâng quơ mỉm cười, nụ cười mà chính bản thân tôi cũng chẳng hiểu nó dành cho điều gì nữa.
Chỉ là tôi đã nghĩ, nếu trước kia tôi không chạy quá nhanh, liệu tôi có bị ngã gãy chân mà không thể đi lại đến hơn một tháng? Nếu tôi vẫn giữ cho mình tình yêu thật nhẹ nhàng với anh, rồi gia đình tôi không rời đi, rồi tôi cũng sẽ chỉ cố gắng theo đuổi cái niềm đam mê viết lách vốn có của mình, tôi sẽ không mù quáng lao đầu vào một con đường rộng dài nhưng thật nhiều bon chen, một cuộc tình trông như lí tưởng nhưng lại toàn giả dối? Lúc nhỏ bị vấp ngã mà gãy chân, có một cậu bé đã tặng tôi cọng cỏ bốn lá mong cho tôi nhanh khỏe lại. Nhưng lúc này đây, khi tôi trải qua bao vấp ngã đến có một vết nứt lớn trong trái tim, sẽ không có ai đứng cạnh mà an ủi hay xoa dịu tôi được nữa. Mặc dù trong chiếc hộp kia vẫn còn cả một bức thư mà anh để lại cho tôi, bức thư nói anh sẽ nguyện đứng đợi, nhưng tôi hiểu cái cơ hội ấy đã bị tôi bỏ lại ở một quá khứ xa xôi mất rồi. Trải qua thời gian lâu như vậy, anh dĩ nhiên đã không còn ở đó, gia đình anh thậm chí cũng đã chuyển đi xa . Cũng phải thôi, làm gì có ai có thể mãi đứng đợi khi mà tôi cứ mải mê chạy xa, chạy xa mà chưa một lần ngoảnh lại, chưa một lần có ý quay đầu...
***
Trở về được một tuần, tôi đã làm quen được với cậu nhóc nhà kế bên, tôi cũng kể cho cậu bé đó nghe câu chuyện về cỏ bốn lá và sự may mắn. Cậu bé cười tươi rói mà xòe tay ra trước mặt tôi:
"Cháu tìm được nó này, cháu tặng cái lá may mắn này cho cô."
Tôi xoa đầu nó:
"Cháu hãy tặng nó cho người khác đi. Cỏ bốn lá tuy mang lại may mắn, nhưng may mắn ấy cũng không phải tự nhiên mà có được, nó xuất phát từ sự chân thành, nhưng cô là người không biết nắm bắt và trân trọng cái sự chân thành ấy..."
#PhongX
Nhân ảnh
Tìm trên đồng cỏ úa,
Một chút nhân ảnh buồn...
Tôi đi trời đã sáng,
Tình ơi thôi vấn vương !
NM

 Đồng cỏ úa
  1. Tôi thấy mình đứng trên một con đường nhỏ. Thân thể nhẹ tênh. Mọi thứ mờ ảo. Chỉ có ánh sáng nhè nhẹ hắt ra từ một con phố khuya gần đó. Yên tĩnh đến kì lạ. Tôi không cảm thấy được bất cứ âm thanh nào, ngoài sự im lặng chết chóc. Tôi đi về hướng ngược lại, men theo vùng bóng tối. Tôi bắt gặp cô bé nhà bên. Chẳng phải nàng út đây sao? – Tôi kinh ngạc. Tựa như một ý nghĩ bất kì nào lóe lên lúc này có thể làm chao đảo đất trời. Nhưng sao em lại quay mặt đi thế kia?
    Tôi bước theo em. Ánh sáng càng nhạt dần, không thể nhìn rõ bốn bề xung quanh. Chỉ có bầu trời gần hơn bao giờ hết. Như thể nó ở ngay trên đầu mình, cách hơn một tầm với. Có thể trông thấy một màu đen nhạt, chạy ra xa tít bốn bề. Sẽ không bao giờ thoát khỏi nó.

    Chúng tôi lại đi. Em vẫn im lặng. Ánh mắt buồn của em khác hẳn với những hôm cả bọn chạy rông trên cánh đồng, lúc ấy em luôn cười. Tôi nhớ có lần mắt em đanh lại, mặt nghiêm nghị, bảo tôi đừng bao giờ đi quá sâu vào rừng, đến cánh đồng cỏ hoang. Nơi ấy đến sẽ không về. Thật kì lạ. Đến sẽ không về nữa ư? Tôi chẳng quan tâm. Tôi nào muốn đến đó làm gì, ở đây nhìn em là được rồi.

    Tôi phát hiện một lần ranh dưới chân mình. Giữa sáng và tối. Nếu bước thêm bước nữa, bóng tối sẽ vĩnh viễn bao trùm. Tôi chợt dừng lại. Cảm giác yên bình hơn là sự sợ hãi. Ô! Còn có vài người nữa này – tôi nghĩ. Đó là bốn người phụ nữ đáng tuổi mẹ tôi. Họ mập mạp và có vẻ vui tính. Họ trò chuyện với nhau như thể đang đi dạo vậy. Mà chẳng phải tôi cũng đang đi dạo đây sao?

    Họ đi thẳng qua vùng bóng tối, nơi bốn bề xa tít là những màu đen. Không. Không phải màu đen, nó là màu của đồng cỏ úa. Có lẽ thế. Vì tôi cảm nhận được làn gió nhẹ chạy xuyên qua da thịt, quần áo của những người phụ nữ. Làn gió thật ma mị. Nó không cuốn bay bất cứ ngọn cỏ khô nào, nhưng nó làm lay động làn da, và ru người ta vào nơi huyền hoặc. Cánh đồng ấy, Thật quen!


    Họ đi thật sao? Nàng út vẫn đứng đây với tôi. Một người phụ nữ nói với ba người còn lại:
    - Xem này, thật là mát mẻ.
    - Chúng ta đi tiếp hay sao? – Một người hỏi.
    - Phải đi thôi – Một phụ nữ kiên quyết và bước nhanh hơn.
    Rồi cả bốn người tiếp tục đi. Một lúc sau, đã không còn thấy họ nữa. Chỉ còn lại bốn bề tĩnh mịch. Tôi không muốn đi tiếp một chút nào, dù rất muốn được làn gió nhẹ ấy một lần đi qua da thịt. Tôi phải quay lại. Tôi nhìn em. Ồ, đứa trẻ nào đây? – tôi tự hỏi khi nhìn thấy thằng nhóc em đang dắt tay.
    - Em đã có con rồi à? – Tôi hỏi với vẻ âu lo. Âm thanh vang vọng một lúc rồi bốn bề lại trở về im ắng.

    Em vẫn im lặng, khẽ nhìn tôi. Đứa bé cũng nhìn tôi, nó có vẻ sợ. Thật kì lạ, tôi chưa từng thấy thằng nhóc này bao giờ. Nó không phải người trong làng. Em vẫn giữ bí mật với tôi, về cuộc sống, về nàng, và về mọi thứ. Em cất giữ cả tình yêu của tôi, rồi ném nó vào cánh đồng úa.

    Tôi bước theo em quay về phía có ánh sáng. Cả ba đều lặng lẽ. Rồi những cảm giác yên bình cuối cùng đang trôi đi mất. Có lẽ đây là quyết định sai lầm? Chỉ là đi dạo thôi mà – Tôi nghĩ - rồi mình sẽ quay lại. Nhất định sẽ quay lại nơi này… để cảm giác một không gian khác hẳn với thế giới. Một làn gió như mê hoặc. Rồi những bí mật sẽ dần sáng tỏ…

    Tôi từ từ mở mắt. Đầu đau buốt. Tôi thấy mình đang nằm giữa rừng. Ngay giữa khu rừng gần làng. Đúng cái nơi mà những người mới chết sẽ được để xác ở lại một đêm. Và sáng hôm sau họ sẽ đến chôn cất. Không ồn ào nhưng đầy đủ nghi lễ. Tôi nhìn quanh, những nấm mồ lộ thiên cũ kĩ, mùi ẩm mốc của lá cây rừng và của những bộ xương. Có tiếng của những con chuột nhỏ và tiếng con rắn hổ trườn trên lá.

    Sao họ còn chưa đến nhỉ? Tôi lồm cồm ngồi dậy, trời mới lờ mờ sáng. Tôi đi về phía rừng. Phía những hàng cây đang vẫy gọi. Băng qua đó, sẽ đến một cánh đồng hoang. Tôi từng nghe dân làng kể về những vụ mất xác. Họ cho rằng thần rừng đã ăn thịt. Ồ, thế lại hay… Người ta sẽ không chôn được một cái xác đã biến mất. Và sẽ không ai buồn tìm nó. Thế là tôi sẽ là tôi. Tôi thuộc về cánh đồng, tôi tìm lại tình yêu của tôi, ở nơi không có em.

    Tôi đi. Trời đã sáng. Sau lưng, có thể nghe thấy tiếng bước chân người. Có tiếng của Già làng, và…có em ở đó không nhỉ? Họ đến để tiễn tôi đi. Mà thôi, mặc kệ họ.Tôi phải đi về phía rừng. Còn cảm giác nào mà tôi chưa trải qua. Nơi ấy đến sẽ không về. Nếu có bắt đầu một điều gì đó mới, ấy cũng là hi vọng…


    "Chỉ có hình mà không hề có dáng
    Là bóng đen không một chút hương màu
    Mọi sinh lực hãm giam trong tù đọng
    Bước âm thầm như những bóng ma trơi..."

    _Đất hoang - T. S. Eliot_
  2. P/s: MC viết theo lời kể của một hồn ma trẻ.
    Tây Nguyên. 09. 2014.

    Nhã Phong

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2018

Nhạc - Thơ - Văn - Mưa châu thổ

Để nhớ về Bạc Liêu quê ngoại của những năm tháng

Mình Ơi

Lời Ru Của Đất

Giọt mưa châu thổ
Về thăm châu thổ quê hương cũ,
Cảm thấy thương ai số phận buồn..
Mưa như trút nước, như hờn giận,
Như lũ tràn về, mãi miết tuôn !

Cú kêu thảng thốt mang điềm lạ,
Đồng xa khắc khoải quá mênh mông...
Đợi chờ vô vọng lòng đau nhói,
Chữ nghĩa văn chương lạc giữa giòng !

Cơn mưa châu thổ bao giờ tạnh ?
Phù sa cuồn cuộn chảy trôi đi,
Mang theo tất cả tâm phiền muộn.
Vẫn chờ, vẫn đợi, dẫu chia ly !
NM

Mưa châu thổ

Tôi là một nhà văn. Bây giờ là tháng mười. Mùa của những cơn mưa. Nửa đêm về sáng mưa có thể làm tâm hồn chúng ta khó ngủ. Vì mưa là chứng nhân, hay kể lại những câu chuyện bất tận từ trời đất, thiên nhiên. Tôi cũng đã qua những mùa mưa châu thổ. Tôi muốn kể lại nó. Các bạn thử lắng nghe xem đây là câu chuyện của mưa hay của tôi?
Đâu khoảng tháng mười năm X. tôi có dịp lưu lạc về Bạc Liêu trong chuyến đi hoàn toàn không định trước.
Một chiều mưa như trút nước, khi tôi từ xã Tân Tiến bao vỏ lãi đi ngược lên Hộ Phòng thì trời đã sẫm tối. Chuyến đi làm tôi cạn kiệt sức lực và tôi muốn nghĩ đêm tại đây nhưng không thể. Út Miêng, người chị họ của tôi đẻ khó đang ở nhà hộ sinh trên thị trấn. Nhưng câu chuyện đã bắt đầu từ trước đó. Tôi về do nhận được tin ông anh rễ, Tư Đen mất đột ngột.
Tư Đen phụ ghe chở hàng, rủi ro đụng xà lan lúc tránh nhau ở lưu vực. Lúc đó vào ban khuya. Gặp vùng nước xoáy, không tìm được xác. Cho dù đám thợ lặn quần đảo từ nửa đêm đến sáng rửng. Cuối cùng, tuyệt vọng, chủ ghe mua nhang đèn, quà cáp đến lễ một ông thầy trên tám mươi, sống và tu trong ngôi chùa thiêng gần đó. Sau nhiều năn nỉ, ông thầy gieo quẻ, bấm độn cho biết người chết đang bị hà bá giữ. Số Tư Đen đã hết. Không cần phải mò xác và cho dù có tìm cũng không ra.
Sau ba ngày, đúng giờ hoàng đạo tự khắc nổi lên. Nghe thầy phán mọi người hồi hộp chờ đợi. Quả đúng như vậy. Mười hai giờ trưa ngày thứ ba thình lình mưa dội, gió xoáy, cái xác xoay tít dựng lên giữa mặt sông cách chỗ đụng ghe chừng cây số. Nhà đòn phải chở xác Tư đi lênh đênh trên nước thêm một ngày nữa mới về tới nhà. Nghe câu chuyện kể lại, thực thực hư hư khó phân định nhưng tôi cảm thấy vô cùng buồn bã!
Út Miêng vật vã bên quan tài chồng. Gần như chết đi sống lại. Lúc đó cái bụng đã lớn vượt mặt. Đã qua tháng thứ tám. Đứa bé quẫy đạp dữ dội. Với một người mẹ trẻ, thật không còn thử thách nào hơn. Mọi người an ủi can ngăn gì cũng không được. Bác tôi vội đưa Út Miêng lên trạm hộ sinh ở Hộ Phòng. Sau rồi nhắn tôi lên gấp, vì có chuyện. Tôi lật đật đi ngay. Mưa như trút. Như oán giận.
Tháng mười miền tây mưa triền miên. Mưa vật vã không biết đến bao giờ cho tạnh. Nước dâng loang loáng đôi bờ. Những cánh lục bình trôi mải mê tím biếc. Dòng châu thổ quặn phù sa. Có như Út Miêng, con cá trắm nặng bụng trứng, vượt cạn bơi ngược nước? Trên mi là những dòng rạch mặn lấp lánh chan hòa. Lúc tôi ra khỏi cửa thì có con cú đen từ trong bụi cây bay thốc ra kêu cú cú một cách thê thảm. Không hiểu chuyện gì đang đến với đời tôi?
Những năm tháng phiêu du mênh mông vô định với giấc mộng văn chương làm tôi cũng mệt mỏi lắm rồi. Cú ơi cú, kêu gì đồng xa khắc khoải? Cái thân nhỏ nhoi này ta chẳng biết còn xô dạt về đâu nữa? Sao đời ta không là cây đước dầm chân một đời bên đầm vắng? Hay cái vó cất tôm treo ngược phía trời xa? Cứ đợi, cứ chờ, khắc khoải và an nhiên thế thôi! Mặc tất cái gì đến sẽ đến. Cái gì đi sẽ đi. Đau nhói và vô vọng. Chẳng phải cuộc đời này cứ chảy, cứ đổ ra biển khơi hay sao? Phiêu lưu mà làm gì, ước vọng mà làm gì để rồi nhọc mỏi, u mê thân xác? Cuộc đời với bao câu chuyện rủi may vui buồn cứ tới mà không thể giải thích được. Nhưng chiếc vỏ lãi đã xé trên nước lao đi như đạn bắn. Hai bên bọt trắng xóa phun rào rào như đang xả một cuốn phim quay chậm…

Trên chuyến đi ấy tôi như bị thôi miên bởi hình ảnh Út Miêng, người chị con ông bác lắt lay với đứa bé trong bụng chòi đạp mãi chưa chịu ra. Và cái chết bất ngờ của chồng vô lý như một câu chuyện khó tin. Làm sao sức chịu đựng của con người, nhất là một phụ nữ lại có thể lớn đến thế? Và tôi thực ra đang tìm gì trên những truyện ngắn lô xô chữ nghĩa của mình? Ôm ấp khai sinh một đứa con tinh thần liệu có dằn vặt, đau đớn như giờ khắc thiêng liêng của một đứa bé trong bụng mẹ quẫy đạp đòi ra đời? Chế (*) đã có dấu hiệu trở dạ. Nhưng cả tuần nay bác sĩ theo dõi vẫn chưa chuyển biến gì.
Cơn đau làm người mẹ trẻ tái nhợt, bợt bã như con mắm. Ngay trong buổi chiều trời đột ngột mưa lớn đó, đứa bé trai đạp mạnh. Hộ lý khám thấy cổ tử cung đã mở lớn, biết ngay đã sắp đến giờ khai hoa nở nhụy. Câu chuyện có thể xem như bắt đầu từ đây. Khi cái nhà hộ sinh cheo leo bên bờ nước ấy chỉ có một bác sĩ giỏi. Và buổi chiều hôm ấy ông đã theo một chiếc tắc ráng đi thăm một con bệnh đâu đó ở trong rừng U Minh. Ông chỉ để lại mấy lời nhắn rời rạc là đi công chuyện, xong việc sẽ về ngay! Xong là bao giờ xong, về bao giờ về thì hoàn toàn không có câu trả lời chính xác. Mênh mang vô định. Ông còn dặn thêm, nếu có việc đột xuất hãy tìm ông ở đồng phía tây ấp Vinh Hạng, kênh Tẻ Xáng, xã Quách Phẩm Bắc.
Ôi cái địa chỉ đánh đố mù trời. Tôi không biết nó ở tận đẩu đâu trên những cánh đồng sông nước trắng xóa bạt ngàn này? Và một gã phiêu lưu, dớ dẩn, cả đời tham vọng dành trọn cho văn chương như tôi làm sao có thể định hướng được để mở đầu cuộc tìm kiếm? Rồi bác sĩ có khuôn mặt thế nào? Bao tuổi? Dáng dấp, tên họ ra sao? Tôi chưa từng quen làm sao có thể lần ra giữa đêm tối mịt mùng? Và tại sao không ai ghi số điện thoại để liên lạc?
Mãi tận sau này tôi mới biết thời điểm ấy điện thoại chưa phổ biến trong những vùng xa xôi sông nước. Họa hoằn lắm mới có nhà có do kéo dây khó khăn, còn sóng di động thì chưa phủ đến. Tình hình lúc bấy giờ không còn cách nào khác. Tôi phải mình ên(**) đi tìm ông ta. Bùa hộ mệnh của tôi là mấy dòng chữ loăng quăng, tưởng như vô thưởng vô phạt của bà cô đưa. Nhập nhoạng, tôi tìm ra bến tàu Tắc Vân và hỏi nhờ một chiếc tắc ráng đi về Quách Phẩm Bắc. Một chuyến đi với sứ mệnh cao cả và lạ lùng mà trong đời viết văn phiêu dạt của mình, lần đầu tôi biết được.

Tôi là người viết văn nhưng tôi cũng không tin lắm vào chữ nghĩa của mình. Vì đôi khi, tôi thấy nó chỉ là mớ chữ hẩm hiu, thèo lèo, rỗng tuếch. Chủ yếu là mua danh ba vạn, bán danh ba đồng. Một cách lãng quên hay lừa mị mình giữa dòng đảo điên thế sự. Và kỳ lạ, tất cả chừng như thay đổi khi tôi gặp Ba Nghiêm. Như có một bàn tay nào đó vô hình xếp đặt, Ba Nghiêm có biết bác tôi và có chơi với Tư Đen. Y kể cái chết của Tư Đen làm bàng hoàng dân sông nước suốt mấy ngày qua.
Và không ai có thể tin Út Miêng có thể sinh con vào lúc này. Khi nỗi đau tâm hồn và nỗi đau thể xác vò xé không biết nỗi đau nào lớn hơn? Tại sao một người con gái xinh đẹp và mong manh như thế ông trời lại buộc cùng lúc phải mang hai nỗi đau lớn như vậy? Ba Nghiêm còn nói, việc chúng tôi được chọn đi tìm ông bác sĩ trong đêm tối cũng là sự xếp đặt. Bởi y hoàn toàn không biết gì cả.
Cả ngày hôm nay ế khách, y buồn và uống rượu. Đầu óc cứ thấy rỗng tuếch, buồn bã gì đâu. Khi trời chạng vạng, y chuẩn bị về thì thoáng thấy bóng tôi thất thểu trên bến tàu với bộ dạng thảm hại. Tôi như một sứ giả mà thượng đế vừa gửi xuống cho y. Đó là cao hứng Ba Nghiêm nói chơi thế thôi. Còn sự thực là khi đọc cái địa chỉ mù mờ trên tay tôi, y nói  rất may là y đã từng đi qua tuyến đường này. Đó là con đường ngoằn ngoèo, khó đi, thậm chí có đoạn muốn tới phải luồn lách trong những đầm cỏ hoang mọc quá đầu người. Và tận cùng con đường thì sẽ đổ ra biển Đông.
Nhưng đó là điều y cũng nghe kể lại thôi. Bởi thực tế chưa có một người khách nào lại đưa ra một yêu cầu y phải đưa đi xa như vậy.  Chúng tôi cần phải khởi hành! Ba Nghiêm nói. Nếu suôn sẻ thì khoảng độ một, hai giờ khuya sẽ tới Quách Phẩm Bắc. Và từ địa điểm này chúng tôi sẽ tiếp tục mò mẫm xem là ông bác sĩ đang ở đâu? Đứa nhỏ cần phải sống bởi cha nó, Tư Đen đã chết. Chẳng lẽ ông trời oan nghiệt bắt tội cùng một lúc hai người trong gia đình sao? Ba Nghiêm uống rượu và liên miên độc thoại.
Còn tôi, lúc này vây giữa bốn bề sông nước không thể định hướng chiếc tắc ráng đang chạy. Chỉ nghe tiếng nước rẽ rào rào, nước bắn lên tận mặt. Tôi đang đi đâu giữa mênh mông đất trời? Những gì đã ở phía sau và đang chờ đợi phía trước? Một cái đích mù mờ nhưng phải đến. Cho dù xa xôi, vô vọng. Chúng tôi phải tìm được căn nhà trên đồng gió Quách Phẩm Bắc.
Phải đón được ông bác sĩ trở về. Và tôi, một kẻ vốn dĩ chỉ biết thả dài phiêu lưu, bỗng nhận ra ý nghĩa công việc viết lách của mình từ một ca đẻ khó. Cuộc sống vốn buồn đau với bao nhiêu thử thách, thăng trầm nhưng vẫn phải trôi về phía trước không thể dừng lại. Một trang viết phải tìm được ý nghĩa thực sự như đốm lửa nhỏ lay lắt trong đêm tối. Cuộc đời vốn không dễ dàng với bất cứ ai. Từ bao lâu nay tôi là người viết văn nhưng hình như chỉ đẽo gọt ngôn từ thành những món trang sức diêm dúa bóng bẩy tên tuổi.
Những trang viết xa lạ như những bông cỏ dại rũ rạp xuống vô nghĩa, phù phiếm. Dường như kẻ nào dính vào chút bút mực cũng hâm hấp, tự cao tự đại. Tự mặc lãnh bản thân mình là đấng cứu thế, kẻ có quyền năng sáng tạo ngang bằng thượng đế khi đẻ những đứa con tinh thần là tác phẩm. Đôi khi những trang viết ra đời sặc sỡ trên những cột báo nhưng bao nhiêu số phận, cuộc đời đã bị bỏ quên. Những lời tung hô, sự chúc tụng bia bọt của đám đông hay vòng nguyệt quế héo hon từ sự tưởng tượng viễn vông nghèo nàn thực sự không bắt rễ hay ăn nhập gì với đời sống cả.
Giờ đây, văn chương liệu có như Út Miêng, người mẹ trẻ mang nặng đẻ đau, vật vã sinh nở? Một cuộc vượt cạn vĩ đại với cái chết kỳ lạ của chồng. Để nụ cười trên mắt Tư Đen không có gì khác hơn hai mẹ con phải sống! Và phải chăng, trong mỗi chúng ta ai cũng cần một bác sĩ tâm hồn để định hướng trước ngã rẽ cuộc đời phiêu lưu, vô định. Tôi đã nhận thấy le lói một con đường hầm đủ vượt thoát trong ánh chớp đầy đe dọa trên bầu trời châu thổ. Những hạt mưa hay nước mắt đời tôi?...  
Cũng không biết tắc ráng của chúng tôi đã đi được bao lâu. Mưa tạnh. Chỉ còn nghe tiếng ếch nhái kêu rền đêm tháng mười. Ba Nghiêm buông lỏng tay. Tiếng cánh quạt nước rè rè thêm một lúc đã dừng hẳn. Cũng đã hai rưỡi khuya. Hình như chúng tôi đã đến đầu kênh Xáng Quách Phẩm Bắc. Theo lời chỉ, ấp Dinh Hạng gần đâu đây. Tiếng chó sủa lộn. Ánh đèn hột vịt chớp chớp phía chòi canh xa. Bóng người loáng thoáng đi tới với vệt sáng vẽ vòng trong đêm. - “Ai đấy? Cần gì?” - Ba Nghiêm hô to: - “Tôi đi đón bác sĩ Hộ Phòng” - “Tôi đây, ai cần việc gì đó?” - Tôi mừng hết lớn. Thì ra công việc vừa xong, ông đã đòi về ngay. “Mưa châu thổ biết bao giờ tạnh - Gia chủ nói - Ngớt mưa hẳn đi!...”. Nể tình gia chủ lẩu nóng, rượu ngon vừa dọn lên mâm. Ông xoa chân, ngồi vào, tớp chén rượu. Vừa lúc nghe tiếng vỏ lãi xé đêm khuya. Linh tính điều gì cả nhà chạy ra thì gặp chúng tôi…
Bây giờ là tháng mười. Tháng của những cơn mưa.
Tôi xa châu thổ đã lâu. Thời gian giúp mọi nhịp sống đã bình thường trở lại. Như dòng phù sa cuộn chảy trôi đi. Những con cá trắm bụng trứng, vượt cạn. Rồi trở về với những đàn con sinh nở. Riêng tôi, tôi đã nhận ra mình chỉ là một người yêu sự viết lách và mãi mãi ước mơ trở thành một nhà văn. Văn chương hoàn toàn không phù phiếm nếu như chúng ta tìm được con đường trong đêm tối và lúc nào cũng có những liều thuốc tâm hồn của bác sĩ. 
Tôi vẫn ước ao viết được những truyện ngắn nhẹ nhàng như cơn mưa. Nhưng thực sự có nỗi đau lắng chìm bên trong. Như Út Miêng bế đứa trẻ trên tay sau những hạnh phúc cay đắng. Sức chịu đựng của con người thật lớn lao cao cả. Trong cơn mưa châu thổ những cuộc đời chìm nổi. Những câu chữ liệu có được như hạt ngọc phù sa bồi đắp đời đời?...
Tháng 10-2010 
NGUYỄN HỮU HỒNG MINH

Mình ơi !
Ngọn gió đưa thuyền xa bến sông,
Người đi theo sóng nước mênh mông....
Bỗng dưng chợt nhớ gian nhà cũ,
Quyện khói lam chiều theo gió Đông

Ôm đàn dạo khúc tình ca cũ,
Thương nhớ ngày xưa ta có nhau...
Chân trời xa phủ màu lam biếc,
Dạo khúc "Mình ơi" vạn nỗi sầu !!
NM

Tình châu thổ 

Cái tin Hai Từ tốt nghiệp lan ra khắp vùng. Ở cái xứ xa xôi này học hết trường làng đã là quý lắm rồi, nay có chyện Hai Từ khăn gói lên thành phố học đại học. Người ta lấy Hai Từ ra làm tấm gương cho con cháu. Thì mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, đâu ai muốn quanh quẩn bên ao làng mãi. Nhưng người ta còn hơn nhau ở chỗ phước phần.
Nhà Hai Từ được coi là giàu nhứt xứ. Thân sinh cậu lúc trước làm chủ vựa lúa gạo và nhà máy xay xát lớn nhất nhì trong vùng. Ông qua đời vì bạo bệnh để lại cho mẹ con cậu căn nhà lớn, kha khá vốn liếng lẫn ruộng vườn. Ruộng đất không ai cai quản, bà Chi đứt ruột bán hết mấy công, còn lại phần đất sau nhà bà thuê người canh tác.
Hai Từ học hết trường làng, lên thành phố tiếp tục con đường học vấn. Cũng có lúc Từ nhớ nhà, nhớ làng xóm da diết, cậu bắt xe ngồi một mạch hơn nửa ngày trời từ thành phố về quê chỉ để ôm bà Chi, rồi một mình lững thững ra bến sông ngồi ngắm lục bình trôi tản mạn. Từ trên cầu cao, thi thoảng Từ nhìn thấy có chiếc ghe nhỏ neo lại dưới chân cầu nấu cơm, khói bay lên nghi ngút.
Chủ ghe là một cô gái tên Đào, có mái tóc dài cột thành một lọn hững hờ an nhiên ngồi giặt đồ sau lái ghe hay đằm thắm với những ngón đờn êm dịu. Từ lại rời quê lên phố tiếp tục với nhịp điệu cuồng xoay. Bốn năm đại học trôi qua nhanh như chớp mắt. Lúc người làng tưởng Từ sẽ bám trụ ở phố, thì Từ trở về quê với mẹ già, với nhà cửa ruộng vườn cha đã để lại.
Cuộc trở về của Từ làm xóm rộn rã. Bà Chi tất bật mời xóm giềng, bà con xa đến dự tiệc mừng con trai tốt nghiệp. Mới sáng sớm mà nhà Từ đã chật ních, đàn ông lên dao giết lợn, đàn bà túm tụm trong bếp thổi xôi, làm gà. Cụ già ngồi xếp bằng trên tấm phản gỗ trước nhà vừa uống trà vừa kể chuyện xưa xứ này. Trẻ con tụ tập ngoài sân gom củi khô đốt đống lửa to, tiếng bông lửa nổ lép bép giòn rụm. Cớ gì mà Từ cứ đau đáu ngóng vọng về cái bến sông có tiếng đàn văng vẳng rơi lúc đêm về gần sáng...
Từ lấy xe chạy ra bưu điện xã có chút việc. Khi đã về đến bụi tre đầu ngõ bỗng nghe có giọng đàn quen cất lên trong nhà. Bản đàn vừa dứt, các cụ tặc lưỡi vỗ tay rôm rả. Từ dựng chân chống xe bước vào trong nhà, thấy tim mình như loạn nhịp. Trên phản là Đào, cô gái có mái tóc dài trên chiếc ghe chòng chành dưới chân cầu. Không biết Đào có nhìn thấy Từ hay không mà cứ mải miết đàn hết bài này sang bản khác. Mẹ Từ bảo tiếng đàn của Đào như rót mật vào tai, nên mẹ mời đến đàn cho các cụ nghe.
Đào đã ngoài hai mươi lăm, gương mặt trái xoan, sóng mũi dọc dừa, cái miệng ít khi cười, nhưng vẫn rất duyên. Mái tóc cô mượt mà đen như nhung vắt chéo ngang vai trái, đôi mắt long lanh sóng sánh buồn. Từ ước mình được một lần cuộn tròn trong đôi mắt bồ câu ấy. Khi đã đàn xong điệu nhạc cuối cùng, Đào nhìn Từ khẽ gật đầu chào. Từ cũng chào lại. Bà Chi xếp phong bì dúi vào tay Đào, mời Đào ở lại ăn bữa cơm rồi hẳn lui ghe. Đào khéo léo từ chối: “Con phải đi sớm cho kịp con nước”. Đào ôm đàn bước ra khỏi nhà. Từ nhìn theo mà lòng chênh vênh, thơ thẩn…
 * * *
Những đêm chiếc ghe của Đào đậu ngoài bờ sông, Từ thường ra đó chuyện trò, ngâm thơ cho Đào nghe, Đào đáp lại bằng một khúc nhạc. Vẫn là những khúc buồn man mác bất giác làm Từ thắt lòng. Rồi cũng đến lúc Từ buột miệng “Anh yêu em…” và Đào trả lời: “Em chỉ là cô gái trên sông, rày đây mai đó, em sợ…”. Từ không nói gì, ngắt lời Đào bằng cái hôn thật sâu. Trong khoảnh khắc đó Đào thấy mình không thể cưỡng lại những cử chỉ yêu thương của Từ.
Nhiều lần Từ thưa với bà Chi chuyện trăm năm, mẹ gạt phắt: “Người ta giàu sang có học thức không ưng, đi ưng con nhỏ xướng ca vô loài, lang bạt tứ phương. Khổ lắm con ơi!”. Nghe mẹ nói mà tê tái lòng dạ, đời Đào lang bạt nên Đào càng khát khao tình yêu và mơ về một gia đình hạnh phúc. Bây giờ mẹ nói thế, lòng Từ rời rã. Thương Đào mà cũng thương mẹ. Chồng qua đời, bà Chi chỉ còn mình Từ là nguồn sống. Đào khuyên: “Thôi anh, số em vậy thì đành chịu. Anh về với mẹ đi…”. Từ cương quyết: “Anh không bỏ mặc em”.
Như lời hứa năm nào dưới bóng hoàng hôn chập choạng ngoài bãi quê xưa cũ, Từ không bỏ Đào. Thương mẹ chứ, nhưng Từ nghĩ thôi mình bỏ nhà theo Đào ít năm, chừng mẹ nguôi giận rồi sẽ dẫn Đào trở về, chắc hẳn mẹ sẽ chấp nhận đứa con dâu tội nghiệp ấy. Một đêm mưa, Đào neo ghe đợi Từ dưới chân cầu cao lộng gió. Xa xa, bỗng Đào thấy bóng ai chạy xuôi dọc bờ đê. Lòng Đào ấm áp lạ thường.
Chiếc ghe rời bến, ngọn đèn dầu tỏa một quầng sáng cũng rời đi…
***
Bà Chi bệnh nặng. Từ nghe tin nhói cả tim. Tin được truyền đến từ một người đàn ông, cũng lang bạt kỳ hồ như vợ chồng Từ, một dạo ghé qua xóm nên biết chuyện. Lòng Từ nặng trĩu nhìn đứa nhỏ ngủ say trên sạp ghe trải manh chiếu cũ. Đào quay sang nói với chồng: “Hay mình về thăm mẹ một chuyến. Em và con đợi mình”. Nói ra câu đó Đào đau lắm chứ. Những chiều buồn êm ả rớt trên mặt sông Đào thấy Từ ôm con ngồi ngoài mũi ghe, thủ thỉ: “Con có muốn lên bờ sống không?”, “Có muốn đi học với bạn bè không?”. Bé gật đầu. Đào ngồi trong ghe xếp quần áo mà nghe rõ tiếng chồng thở dài lai láng, mắt nhìn xa về phía bờ đất. Ở đó có rẫy dưa, rẫy bắp xanh rì. Có cát mềm dưới chân, có những ngôi nhà quyện mình trong màu lam khói biếc. Khung cảnh đầm ấm mà gần nửa đời người Đào chưa một lần được sống, được hít trọn vẹn mùi khói bếp ngọt bùi. Hơn năm năm lang bạt, chưa bao giờ Từ làm Đào buồn lòng. Mà sao Từ cứ mãi buồn. Từ đã quen dần với những bến chợ, những món tiền rau, tiền củ, tiền quả… với những bạn hàng thân thiết tại một bến chợ nào đó dọc miệt sông. Đã lâu rồi Đào không được nghe Từ đọc thơ, kể chuyện.
Đào neo ghe lại một bến sông quen, cách xóm không xa. Từ nhìn Đào rồi dắt đứa nhỏ bước lên bờ. Hai cha con ngoái lại nhìn chiếc ghe lần nữa, trong ánh mắt dặn Đào đợi Từ ngoài bến sông, rồi cha con Từ sẽ trở lại. Hai chiếc bóng một cao to, một bé nhỏ lúp xúp đi bên. Thập thững trên bờ đê thoảng hương lúa trổ đòng đòng. Đào đứng lặng sau lái, nhìn theo đến khi dáng hai cha con mất hút sau làn khói ban chiều. Đào chảy nước mắt, lom khom sang nước vào lu rồi đem cây đàn treo trên vách ra phủi bụi, gảy một bản nhạc quen.
Sáng sáng chiều chiều Đào hay ra mũi ghe lóng ngóng về phía xóm, chờ hình bóng thân thương. Một đêm những cơn gió băng qua đồng thổi phần phật dữ dội, mưa tạt mạnh vào trong ghe ướt cả manh chiếu cũ, Đào hốt hoảng che chắn mãi mà vẫn không khô nổi. Đào co ro một góc ghe, lạnh buốt. Ngày trước có Từ, mỗi lần mưa tạt là Từ gom hết mấy tấm nilon dưới sạp ghe che chắn đủ chỗ. Từ sợ mưa làm lạnh vợ con, còn Từ ngồi sau pha trà uống cho đỡ lạnh. Giờ không có chồng con bên cạnh, “Chắc hai cha con ấm”, Đào nghĩ thế. Ngọn đèn phụt tắt, Đào bất lực ngồi trong bóng đêm tịch mịch, rồi thiếp đi lúc nào không hay. Sáng hôm sau, trời trong hơn. Đào tỉnh dậy, thấy ghe mình đang dập dềnh trên một quãng sông lạ. Đào nhìn dáo dác xung quanh chỉ thấy ruộng đồng bờ bãi. Không thấy bến sông quen với cầu cao lộng gió mà Từ vẫn đứng ngẩn ngơ mỗi buổi chiều buông. Không để nước mắt rơi thêm lần nào trên bờ mi đẫm màu sương nắng, Đào ôm cây đàn ra mũi nghe ngồi dạo khúc “Mình ơi”, sầu sầu tủi tủi.
    ***
Qua Tết, gió bấc vẫn còn lưu luyến trên mấy ngọn bần, ong bay lả lướt. Hơn một năm ròng một mình Đào lang bạt, buồn thì ít mà nhớ thì nhiều. Vẫn còn đó hương vị bánh mứt thơm ngọt thoảng lại từ những gia đình trong xóm, ngửi mà nức lòng. “Không biết cha con ăn Tết có vui không? Có ấm cúng không?”. Đào thoáng nghĩ, lom khom chui vào trong mui lôi cây đàn ra căng lại dây đàn, rồi ra mũi ghe mà gảy.
Khói quê hương từ một bếp un nào đó trên bờ đê bay ra giăng mắc mặt sông. Qua làn khói trắng đục ấy, Đào bỗng thấy có hai con người đứng lặng trên cầu cao, hình như là hai cha con. Đứa nhỏ đội chiếc mũ rộng vành, gió phất làm vành mũ co lại che hơn nửa mặt. Xa xa, chân trời chiều phủ màu lam biếc. Có tiếng gọi chín rụng hoàng hôn, thương đứt ruột: “Mình ơi!”.
HOÀNG KHÁNH DUY

Trăn trở
Hoàng hôn loang loáng màu lam biếc,
Văng vẳng từ xa tiếng nước tràn...
Mẹ ngồi đơn độc gian nhà nhỏ,
Con còn trăn trở kiếp đi hoang
NM 
 

 Mưa chiều châu thổ
Tôi ấn cái nút nhỏ xíu trên đầu chiếc radio cũ kỹ trên kệ. Nghe radio trở thành thói quen ngọt ngào và thanh thản của tôi từ thuở sinh viên, sáng lên giảng đường, chiều muộn về mở nhạc quê hương cho vơi nỗi nhớ nhà. Nhìn ra cửa sổ căn hộ chung cư tầng tám, bầu trời tháng bảy đùng đục. Những cơn gió lạ ùa về lành lạnh thịt da. Chiếc radio nhỏ vang lên giọng nói quen thuộc: Một người bạn phương xa gửi tặng bạn K. bài hát “Chiều nước lũ” với lời nhắn “Chúc K. và gia đình luôn luôn bình an”. Bài hát ấy vang lên. Tim tôi quặn thắt.
Một nỗi nhớ da diết choáng ngợp. Mùa này quê tôi nước nhảy khỏi bờ, tràn qua bao cánh đồng, vườn tược. Sáng hôm sau, tôi bắt chuyến xe về nhà. Ngồi trên xe, qua cửa kính, hai bên đường ruộng đồng xanh ngắt một màu. Những bờ đê nghiêng nghiêng trong gió. Những mái nhà tranh, xóm làng xa xa. Tôi thấy quê mình mùa lũ đẹp mà buồn đến nao lòng.
* * *
Tôi thức dậy khi trời chưa sáng hẳn, nhớ lời má dặn, tôi nhóm bếp nấu nước pha trà cho ba, rồi bắc nồi cơm. Má ra khỏi nhà từ sớm, tôi nghe tiếng má mở dây cột ghe dưới bến sông rồi róc rách bơi đi. Ba cũng lục đục ra đồng. Tôi ngồi bó gối trước nhà nhìn những chuyến tàu chạy ngang qua. Mấy hôm rày, trời lác đác mưa. Ba tôi tranh thủ nhổ hết mấy giồng khoai chất lên xe rồi trữ dưới bếp chờ người đến cân. Cơm chín, má về. Chiếc xuồng vừa cập bến sông tôi đã nghe tiếng má nói vọng: “Mới tháng này mà trời ráng mỡ gà, mối bay đầy đồng, chạy ra kêu ba nhổ hết giồng khoai giống đi Hương, khéo mưa úng hết”.
Tôi hiểu nỗi lo của má. Mưa dầm tháng sáu, tháng bảy, cộng với nước sông chảy về, tràn lên đồng ruộng bãi bờ. Nhà tôi nằm trên cánh đồng Tri Tôn, cạnh dòng Vĩnh Tế, đón con nước đầu tiên của thượng nguồn sông Mê Kông đổ về. Vừa chạy ra đón má, tôi vừa nói: “Ba ra đồng rồi má ơi”. Trời ngả màu nhưng vẫn chưa mưa, không khí còn ngột ngạt và hơi nóng vẫn còn hâm hấp. Má nói: “Chắc ba bây ra đồng nhổ khoai, đắp bờ, khoai chưa ai cân mà mưa sắp tới...”.
Những gia đình khác trong xóm đã chuẩn bị đón đợt nước lũ tràn về từ nhiều ngày trước. Hôm đi ngang đồng chú Út, tôi thấy chú khệ nệ đào con mương dẫn nước từ đồng ruộng ra dòng sông. Vợ chồng bác Hai người leo lên mái nhà, người ở dưới đất buộc dây rịt chặt lỡ có gió lớn cũng không bị thổi bay. Những bao đất chất quanh nhà, đồ đạc được kê cao. Dần dần công việc ấy trở thành thói quen, không ai còn chạnh lòng mỗi độ nhìn mưa rơi ngoài mái hiên làm ướt giàn mồng tơi tháng sáu...

Đêm ấy nước lên nhanh đến bất ngờ. Tôi đang nằm trong mùng thiu thiu ngủ, ngọn đèn chong vẫn còn tỏa quầng sáng leo lét trên đầu giường và đài phát thanh đêm muộn vẫn còn rỉ rả từ chiếc radio. Bỗng có tiếng lao nhao từ bên sông vọng về. Tôi bật ngồi dậy, ba thắp thêm ngọn đèn nữa cho sáng, má bưng đèn dầu chạy ra sân nhìn trời. Ba nói hấp tấp: “Hai má con lo kê chỗ khoai mới nhổ lên cao, nhanh lên”. Nói rồi ba leo lên ràng lại mái nhà. Tưởng thong thả mấy bữa nước mới về, ai ngờ...
Má con tôi chất đống khoai vào thúng rồi để lên sàn cao. Người quê tôi đã quen với những cơn lũ bất chợt ào đến, rồi nấn ná lại ít hôm, có khi cả tháng trời, có khi ròng rã gần nửa năm nước vẫn còn lép xép ngang bờ đất. Trong phút chốc, nước từ thượng nguồn đổ về dòng kênh Vĩnh Tế rồi lênh láng khắp ruộng đồng, gò bãi. Nước nhảy vọt qua bờ đất cao, dâng lên nền nhà, ngang qua đầu gối chai sần của ba. Má chưa kịp xắn ống quần lên đã ướt, chỉ kịp quơ vội mấy bộ quần áo, mớ tập vở của tôi rồi trèo lên chiếc xuồng con để giữa nhà ngồi co ro nhìn nước nổi. Trong màn đêm chập choạng, tôi thoáng trông thấy chiếc xuồng nhỏ xíu của ai đó đứt dây trôi lênh đênh giữa dòng. Ba tôi nhón người ngồi lên bộ vạc, hai chân ba buông thõng xuống dưới. Má chồm tay phủi mấy hạt nước lăn tròn trên khuôn mặt ba, nhẹ giọng: “Ướt hết rồi, để tui lấy áo khô cho mình thay, không cảm bây giờ”. “Lát nữa hẳn thay, để coi còn việc gì nữa hay không”, ba vừa nói vừa rót tách trà nóng uống cho ấm bụng, “Hình như nước thôi lên rồi. Năm nay thời tiết bất thường quá”.
Ba ngồi chồm hổm trên vạc, ướt sũng và đôi môi tái mét. Má con tôi nhóm lò hâm nóng cơm và mẻ kho quẹt để ba ăn ấm bụng và có sức canh nước tới sáng. Ba bưng chén cơm, và vội, mắt vừa nhìn ra xa xăm. Trời vẫn chưa ngớt mưa, cánh đồng và dòng sông, bãi bờ và lau sậy... tất cả chìm trong biển nước trắng xóa.
Sáng hôm sau, bầu trời vẫn còn đùng đục. Mưa đã thôi rớt những hạt to và nước đã thôi dâng lên, dòng sông dịu dàng giữ lại cho đồng bằng mực nước xăm xắp ngang bụng ba khi đứng trên nền nhà cũ. Nhà là một dấu chấm nhỏ giữa biển nước bao la, con đường và dòng sông trôi dài tít tắp. Bác Hai chân tay lấm lem bùn đất liêu xiêu chống xuồng khắp xóm, hỏi vọng: “Đêm qua nước lên, bà con bình an hết hả?”. Ba tôi trả lời: “Bình an hết. Anh Hai đi đâu sớm vậy?”. “Đi thăm bà con, bình an hết cũng mừng. Ruộng vườn nhà tui ngập tuốt”, bác nói.
Ba tôi mời bác vô nhà ăn chén cơm cho ấm bụng, bác tấp xuồng vô bến. Má tôi đốt lửa nướng khô, khô lóc, khô sặc, khô phi nướng lên mùi thơm nức mũi, khiến bụng đói cồn cào. Và được vài đũa, bác hai vỗ đùi một cái rõ kêu, nói lớn: “Sau con nước năm nay chắc làm ăn được. Đợt lũ năm ngoái nhà anh Sáu trúng đậm, qua một mùa nước mà sắm được tivi, nồi điện”. “Ừ, mất cái này sẽ được cái khác. Trời đất luôn công bằng”, ba tôi cười vang rồi nhìn ra ngoài kia đồng nước mênh mông. 
Chiều, ba tôi hăm hở xách lưới vó ra đồng bắt cá. Trên dòng giăng mắc một màn sương, ngồi trên vạc trước nhà tôi thấy má bơi xuồng cho ba giở cái đó sông, ba cười chất phác. Trong đó nào cá linh, tôm càng xanh, cua, ốc, lươn, chạch... Rồi trời tạnh mưa, má tôi lại bơi xuồng mang cá ra chợ bán kiếm tiền sửa lại mái nhà dột mưa lỗ chỗ, xóm lại rôm rả như xưa...
* * *
Tôi không nhớ tuổi thơ của tôi đã trải qua bao nhiêu mùa nước nổi. Ký ức bàng bạc màu nước, loang loáng màu lam biếc của hoàng hôn. Tôi vẫn thường nghe từ cõi xa xôi vọng về tiếng nước chảy ồ ạt qua bờ đất cao cao, nước tràn vào đồng ruộng mênh mông và ngôi nhà yêu dấu.
Mấy mùa nước lũ đi qua. Lâu lắm, má tôi ngồi một mình. Má gầy khòm, vai nặng trĩu gánh thời gian. Má đơn độc trong căn nhà nhỏ giữa biển nước mênh mông. Ba mất trong buổi chiều nước lũ rút dần xuống dòng kênh Vĩnh Tế, mắt ba nhắm thinh, bình an. Ba nằm trên mảnh đất quê nhà thoang thoảng mùi cỏ cây, mùi phù sa và mùi Tri Tôn đất nóng. Tôi rời xóm nghèo lên thành phố lao vào cuộc mưu sinh. Má thủy chung bám trụ cánh đồng xưa, ngôi nhà nhỏ với dòng sông quê từng mùa con nước vơi đầy. Nghĩ về má, nước mắt tôi ứa ra.
Tôi luôn canh cánh trở về ôm đôi vai nhọc nhằn của má, kéo tấm mền đắp ngang người má mỗi đêm mưa. Tôi về ràng lại mái nhà, chống đỡ cái cột hay xách dao chặt đứt mấy tàu lá dừa cạnh nhà để trời giông khỏi đổ. Tôi về hái chùm bông điên điển, bắt con cá rô đồng nấu cho má nồi canh thơm nồng hương vị đồng quê, hát cho má nghe mấy câu mà ngày xưa má thường hay hát ru tôi say giấc mỗi độ đất trời trở gió...
Hoàng Khánh Duy

Loi Thien Thu Goi

Thổn thức

Sao vẫn nhớ hoài nơi chốn xưa ,
Đau đáu luôn mơ giấc mộng thành...
Giòng sông tuổi nhỏ chừ xa lắm,
Đâu người con gái tóc hương chanh...?
Rừng xanh bao kín con kênh nhỏ,
Nắng vàng len lỏi giữa vòm cây...
Ta đứng bên nầy thương Vĩnh Tế
Thổn thức trong tim nỗi nhớ đầy !
NM 
 
mùa nước nổi, miền Tây,

Tìm Xưa Châu Thổ

Cô liêu đàn xưa ngân trên sông... 
 Người đàn ông dừng lại bên bờ nước, vẩy tay cười nhìn bóng dáng bé bỏng của đứa cháu nội, tay bở ngở chiếc cần câu, e dè ngồi bên bố đang chèo chiếc xuồng độc mộc đi tìm chổ câu cá. Ðã nhiều năm vào mỗi mùa hè, cha con ông vẫn thường tìm lên vùng biên hồ này một đôi tuần như nơi nghĩ mát hàng năm. Năm nay là lần đầu tiên đứa cháu nội vừa lên sáu của ông được “go fishing up North”. Ông vui hơn vì có thêm đứa cháu nhỏ chuyện trò và hình như mỗi năm ông càng xao xuyến hơn với những buổi chiều trên biên hồ. Trong ráng chiều đỏ ối rười rượi cơn gió bát ngát đi về, mặt trời im lìm khuất bóng lặng lẽ mà bồn chồn như vết tàn phai của ý nghĩ lao lung về một khung trời mộng cũ, mang mang châu thổ vang vọng triều dâng. Chiếc xuồng đã chèo xa khuất tầm nhìn mà đâu đó còn vọng lại tiếng cười lãng đãng bay trong chiều bát ngát vương trên mặt hồ bập bềnh hoa súng như những nụ đèn chờ thắp hoàng hôn. Hoa súng vàng điểm xuyết lên từng từng thảm xanh lục bình tự tại nổi trôi vào ngút đuối mắt nhìn. Màu lam tím của hoa bèo níu sa xuống mây chiều rồi lan xa vào vô tưởng chân trời giờ đây như tràn ngập tiếng reo cười, âm vọng thanh xuân. Phải chăng là tiếng cười trẻ thơ của đứa cháu vừa câu được con cá đầu tiên trong đời hay chính tiếng mình buổi thanh xuân trên quê hương một thuở lớn lên…
Giòng nước bạc giòng sông trôi theo dõị
Cuối chân trời hình bóng một chân mâỵ
Ðời xiêu đổ nguồn xưa anh trở lạị
Giữa hư vô em giữ nhé chừng nàỵ..
(Bùi Giáng)
Tìm xưa châu thổ. Xốn xang lòng ông hình ảnh con tàu chập chùng đêm Cửu Long văng vẳng điệu buồn phương Nam trải trang lời kinh sấm giảng ru ấm hồn người. Nhắm mắt lại, trải hồn ra, để thấy mình nằm trên khoang đò dõi mắt về phố bến huyền hoặc ánh đèn. Trên dòng Tiền Giang, tàu chạy qua Bắc Mỹ Tho, thành phố nửa đêm về sáng đẹp lạ lùng. Hay theo chuyến tàu sớm khởi hành từ Kinh Ông Chưởng để về Long Xuyên cho kịp phiên chợ. Thuyền đò san sát trên bến sông. Hãy vào một quán chợ kêu ly xây chừng, lòng sảng khoái mồi điếu thuốc đầu ngày.Hay dẫn đoàn tàu từ Phong Phú về, hung hãn phóng nhanh cho kịp buổi nhậu. Thành phố Cần Thơ vừa lên đèn, bến Ninh Kiều quyến rũ như cô gái Nha Mân ngồi hong mái tóc dài thoang thoảng hương chanh.Dòng kinh chảy sâu vào trong bao la của trời đất hình như đã mang đủ chiều dài cho gió thênh thang. Tàu chạy hết ngày vào tới đêm. Chạy hết chiều dài của dòng kinh để thấy mình nhỏ nhoi giữa trời khuya mênh mông. Bỏ lại sau lưng bến đò An Long, hắt hiu ngọn đèn vàng, buồn như lòng cô chủ quán đã tàn xuân. Con tàu vẫn chạỵ Giữa vàm sông rộng, tiếng máy trầm đều ngái ngủ. Tàu ghé qua Vàm Láng, quán nửa khuya thao thức ánh đèn rọi xuống mặt sông lao xao. Xa xa ngọn tháp cao nhà thờ trên Cù Lao Giêng chênh vênh mơ hồ trong ánh trăng. Tàu chạy sâu hút vào nửa đêm về sáng. Con lộ giới nghiêm im vắng trải dài qua Cái Dầu nằm say ngủ dưới ánh đèn đường vàng vọt. Mờ ảo trong ánh sáng đầu ngày, chuyến tàu chợ sớm từ Tân Châu về Châu Ðốc xao xác tiếng người …Từ bến bắc Cao Lãnh lên tàu theo con nước xuôi về Chợ Mới, chưa hết phiền hà vì sự chật chội nóng nực của hơn nửa ngày xe đo, lòng chợt mát rượi như vừa được uống miếng nước mưa giữa buổi trưa hè. Cái cù lao nhỏ nhoi mà ân cần như ốc đảo giữa sa mạc. Rừng cây xanh bao kín cù lao chỉ chừa khoảng trống vừa đủ cho con kinh nhỏ theo vào. Dòng nước trong và êm tưởng chừng như chỉ những giọt nước hiền mới được phép quây quần. Ngay khoảng trống đó là cánh cửa vô hình, ranh giới giữa cuồng nộ và yên bình. Bên trong, khung cảnh mở ra đẹp như một vùng chiêm bao. Hàng cây hai bên con đường nước châu đầu trò chuyện, cành lá đan vào nhau làm những miếng nắng phải len lỏi mãi mới sa xuống được mặt nước mát. Tàu trôi dưới vòm câỵ Tâm hồn nhẹ nhàng tưởng như đang chậm bước trong một giáo đường thênh thang. Những ngôi nhà nền đắp cao mái ngói đài các ẩn hiện sau những lùm điên điển lấm tấm hoa vàng. Nối liền mỗi nhà với con kinh là mương nước rộng, xuồng lớn có thể chèo vào tận đến đầu hiên nhà.Cao Lãnh. Chữ nghĩa người xưa giờ sao nghe đắng caỵ Ước mơ lớn lao của ông Tổng Ðốc, lãnh mệnh Chúa phái vào sâu trong đất Nam Ky giữa vùng nước thấp mênh mông tràm đước để mở mang bờ cõi, đã thể hiện qua những địa danh đẹp như Mỹ An, Mỹ Phước, Phước Xuyên... Có lẽ giữa cảnh trời nước mênh mông nhớ người còn ở lại đất Thần Kinh, ông quan trẻ trong giây phút lãng mạng đã lấy tên vợ Vĩnh Tế để gọi một dòng kinh mới. Và lạ chưa, có một buổi chiều gió Tịnh Biên rợp vàng trí nhớ, rượu uống ngà ngà say, đứng bên dòng Vĩnh Tế dõi mắt về phương xa nhớ thương ngày cuối biển. Dòng nước cưu mang nỗi lòng Thất Sơn, Hồng Ngự chảy qua vùng đất Giang Thành qua miệt Hà Tiên rồi đổ vào biển rộng. Ðứng đó bên bờ kinh nhỏ sao nghe lòng mình xôn xao tiếng sóng. Ngược hướng Tịnh Biên, bóng mây không che được dáng núi Thất Sơn, kiêu bạc quàng vai dãi lụa sầu châu thổ. Giòng nước lung lay soi bóng người, bóng thời gian lẩn khuất không trôi. Ông quan trẻ lãnh mệnh Vua đi mở nước, từ hơn trăm năm trước từ giã đất Thần Kinh tìm đến miền ba-sông-bảy-núi xa vời đất khách. Người đã đến từ một cuối biển Ðông xa hay phải lặn lội qua đôi lần sông mênh mông sau trước? Ðỉnh núi nào người xưa đã đứng vọng một tiền đồ rồi mường tượng tới giòng kinh nối biển? Giòng sông đào như dải ruột mềm trang trãi tấm lòng quân tử vua tôi, man mác nghĩa phu thệ Thoại Hà, giòng sông đào vua ban cho tên gọi, đầm đìa nỗi lòng Vĩnh Tế, đã cưu mang từng giọt phù sa nặng lòng châu thổ đến tận bờ nước Hà Tiên.Con người trên những dòng sông. Truyền kiếp. Núi biển chia lìa từ thuở khói sóng hồng hoang mơ hồ thanh sử. Những dòng sông chẳng hề gặp nhau, lận đận gian nan như đường chỉ tay in hằn số phận. Những dòng sông cắt chia nhiều nhánh cho nước nguồn bơ vơ biển lớn. Những dòng sông cố gắng giải thông lời nguyền khắt khe buổi đầu dựng nước. Dòng sông chảy ngang chia cắt lòng người, đầm đìa giọt mồ hôi từ đá sỏi nghìn xưa. Con người nổi trôi theo định mệnh u hoài của dòng sông muôn đời gắng công nối liền biển núi. Người xưa. Cơ đồ. Mệnh nước. Một thuở biên cương. Trăm năm sau, cõi giang biên âu sầu muối mặt, bơ phờ cơn gió tai ương. Ta đã đôi lần từ biển đến, lòng lú lấp phiền hà rồi say khướt biếng lười đâu đó cuối giòng để bây giờ, hồn nặng vàm sông bến nước, đứng bên giòng kinh biên giới, tần ngần về một nửa ngày sông. Và cả một đời mình. Phải chăng chỉ để tròn một bước chân vô ích mà lòng thì vẫn quằn nặng ưu tư giấc mộng không thành? 
Ðôi khi muốn quay về, ngồi yên dưới hiên nhà…(TCS) 
 Người đàn ông trở về lều nhóm lửa pha cho mình ly trà nóng. Buổi chiều biên hồ êm ả như ru. Bầy vịt trời nô đùa trên mặt hồ làm đong đưa những cánh hoa súng như từng miếng nắng nhỏ lung linh rồi soải cánh theo nhau bay về phía ráng chiều lướt thướt những sợi mây hồng. Nơi nào là quê-nhà cho một kiếp thiên di khi vùng nước sẽ đóng thành băng khi mùa đông tới? Ông đã nổi trôi đắm chìm trên giòng sông đời mình. Làm thân tàu trôi xa khỏi vịnh biển êm đềm, lênh đênh trên khắp cùng sông biển quê hương, để rồi sống cuộc lưu cư suốt kiếp đời còn lại mà lòng thì mãi nhớ về giòng sông nhỏ quê nhà.Ba mươi hai năm. Giòng nước sông Thu Bồn một cuối tháng Ba đã đẩy đời người trôi tuốt khơi xa, vào cuộc truân chuyên. Xa rồi đêm trăng Thuận Tình mờ mờ cát vàng Xuyên Thọ. Vùng đầm sông nối biển, trộn nước nguồn Ô Lâu-Thu Bồn-Ðế Võng với nước biển Ðông là dấu mốc oan khiên mặn xát hồn lưu xứ. Nhìn bầy lục bình giạt trôi trên mặt hồ bát ngát, lòng chợt bồn chồn câu hát cũ, quay về, yên ổn, hiên nhà. Tiếng vịt gọi bầy lãng đãng gần xa, âm vọng mơ hồ một bến bờ để dừng đôi cánh mỏi. Tiếng reo cười của đứa cháu nội rõ dần theo bóng dáng chiếc xuồng đang lách qua từng mảng lục bình chèo về phía lều nơi bếp lữa đang bập bùng. Quê nhà. Ra đi. Trở về. Cữu Long. Mississippi. Ông cười với cháu nội khi đở xâu cá trên tay đứa bé. Bếp lữa đầu sông Mississippi sẽ nấu chín con cá đầu tiên cháu ông câu được. Ông vui lòng nhủ thầm.
Phan Thái Yên